Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn chuyên ngành Hóa học - Vật liệu (Chemistry & Materials). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn chuyên ngành Hóa học - Vật liệu (Chemistry & Materials). Hiển thị tất cả bài đăng

TÍNH TOÁN và THIẾT kế hệ THỐNG TRÍCH LY cà PHÊ CÔNG SUẤT 1000 kgh

 


Ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội thì yêu cầu về sự tiện dụng và chất lượng của sản phẩm ngày càng lớn và cà phê hòa tan hay cà phê uống liền là sự lựa chọn tối ưu cho những người yêu thích cà phê. Đó là một loại đồ uống bắt nguồn từ cà phê nhưng dưới dạng bột cà phê và đã được nêm nếm sẵn theo khẩu vị và được chế biến bằng phương pháp rang, xay, sấy khô. Cà phê hòa tan được sử dụng ngay bằng cách chế với nước sôi và khuấy đều  là có thể sử dụng, không chỉ vậy loại cà phê này có thể bảo quản được lâu và dễ sử dụng. Để sản xuất được cà phê hòa tan cần phải qua quá trình trích ly và nó là quá trình vô cùng quan trọng trong việc sản xuất cà phê hòa tan. Chính vì điều đó mà các nhà máy sản xuất cà phê hòa tan ngày càng cải tiến thiết bị trích ly của mình để quá trình trích ly được tối ưu hơn.

 


Ngày nay cùng với sự phát triển nhanh chóng của xã hội thì yêu cầu về sự tiện dụng và chất lượng của sản phẩm ngày càng lớn và cà phê hòa tan hay cà phê uống liền là sự lựa chọn tối ưu cho những người yêu thích cà phê. Đó là một loại đồ uống bắt nguồn từ cà phê nhưng dưới dạng bột cà phê và đã được nêm nếm sẵn theo khẩu vị và được chế biến bằng phương pháp rang, xay, sấy khô. Cà phê hòa tan được sử dụng ngay bằng cách chế với nước sôi và khuấy đều  là có thể sử dụng, không chỉ vậy loại cà phê này có thể bảo quản được lâu và dễ sử dụng. Để sản xuất được cà phê hòa tan cần phải qua quá trình trích ly và nó là quá trình vô cùng quan trọng trong việc sản xuất cà phê hòa tan. Chính vì điều đó mà các nhà máy sản xuất cà phê hòa tan ngày càng cải tiến thiết bị trích ly của mình để quá trình trích ly được tối ưu hơn.


M_tả

Giải thích các hiện tượng xúc tác

 


Từ rất lâu, ngành hóa học đã quan tâm nghiên cứu đến hiện tượng làm thay đổi vận tốc phản ứng khi có mặt một lượng rất bé của một chất nào đấy. Có lẽ hiện tượng này xuất phát từ những điều hết sức tình cờ.

 


Từ rất lâu, ngành hóa học đã quan tâm nghiên cứu đến hiện tượng làm thay đổi vận tốc phản ứng khi có mặt một lượng rất bé của một chất nào đấy. Có lẽ hiện tượng này xuất phát từ những điều hết sức tình cờ.


M_tả

Nghiên cứu, tạo bột giấy từ nguyên liệu rơm rạ



 Phương pháp nghiên cứu


Thu thập tài liệu, tìm hiểu về thành phần hóa học của rơm rạ có thể làm nguyên liệu giấy. Tiến hành nghiên cứu quy trình sản xuất Bột giấy từ rơm rạ bằng phương pháp hóa cơ – điều kiện nghiền bột không cần nhiệt độ và áp suất cao.

Khảo sát sự ảnh hưởng của hàm lượng NaOH và thời gian thẩm thấu hóa chất lên độ nghiền và hiệu suất của quá trình nghiền bột. Bột được nghiền ở nhiều chế độ khác nhau (số vòng nghiền thay đổi). Kiểm tra tính chất của bột rơm bằng cách: xeo tờ handsheet và xác định các tính chất của giấy. khảo sát ảnh hưởng của độ nghiền lên các tính chất đó.



 Phương pháp nghiên cứu


Thu thập tài liệu, tìm hiểu về thành phần hóa học của rơm rạ có thể làm nguyên liệu giấy. Tiến hành nghiên cứu quy trình sản xuất Bột giấy từ rơm rạ bằng phương pháp hóa cơ – điều kiện nghiền bột không cần nhiệt độ và áp suất cao.

Khảo sát sự ảnh hưởng của hàm lượng NaOH và thời gian thẩm thấu hóa chất lên độ nghiền và hiệu suất của quá trình nghiền bột. Bột được nghiền ở nhiều chế độ khác nhau (số vòng nghiền thay đổi). Kiểm tra tính chất của bột rơm bằng cách: xeo tờ handsheet và xác định các tính chất của giấy. khảo sát ảnh hưởng của độ nghiền lên các tính chất đó.


M_tả

THIẾT kế hệ THỐNG sản XUẤT CHÈ ĐEN với NĂNG XUẤT 12000 KG NGUYÊN LIỆU NGÀY

 


NỘI DUNG:


Lời mở đầu:

Chương 1:  GIỚI THIỆU NGUYÊN LIỆU – SẢN PHẨM

1.1. Nguyên liệu

1.1.1. Mô tả chung về đặc tính nguyên liệu

1.1.2. Giá trị của chè tươi 

1.1.3. Giá trị kinh tế 

1.1.4. Yêu cầu chất lượng nguyên liệu

1.1.4.1. Chỉ tiêu lựa chọn nguyên liệu

1.1.4.2.Khả năng đáp ứng các chỉ tiêu

1.1.4.3. Kế hoạch xây dựng nguồn nguyên liệu

1.2. Sản phẩm ( chè đen)

1.2.1.Giới thiệu

1.2.2 Gía trị

1.2.3Chỉ tiêu đánh giá chất lượng

 


NỘI DUNG:


Lời mở đầu:

Chương 1:  GIỚI THIỆU NGUYÊN LIỆU – SẢN PHẨM

1.1. Nguyên liệu

1.1.1. Mô tả chung về đặc tính nguyên liệu

1.1.2. Giá trị của chè tươi 

1.1.3. Giá trị kinh tế 

1.1.4. Yêu cầu chất lượng nguyên liệu

1.1.4.1. Chỉ tiêu lựa chọn nguyên liệu

1.1.4.2.Khả năng đáp ứng các chỉ tiêu

1.1.4.3. Kế hoạch xây dựng nguồn nguyên liệu

1.2. Sản phẩm ( chè đen)

1.2.1.Giới thiệu

1.2.2 Gía trị

1.2.3Chỉ tiêu đánh giá chất lượng


M_tả

Tổng quan các phương pháp kiểm nghiệm bia

 


Trong những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập và phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới, tốc độ công nghiệp hóa của Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất ra đời, nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp phát triển mạnh. Đặt biệt là ngành công nghiệp sản xuất bia. Hiện nay cả nước có hơn 326 cơ sở sản xuất bia. 

Năm 1996, cả nước có khoảng 7 nhà máy bia liên doanh với các đối tác nước ngoài. Trong số đó có một số nhà máy sản xuất kinh doanh có hiệu quả như nhà máy bia Việt Nam (bia Tiger-Heineken), còn lại các nhà máy bia liên doanh khác sản xuất vẫn chưa đạt công suất thiết kế. Trong khi đó, sản phẩm bia nội địa vẫn tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của mình trên thị trường nội địa, được người tiêu dùng ưa thích, tín nhiệm và chiếm thị phần lớn.

 


Trong những năm gần đây, cùng với xu thế hội nhập và phát triển kinh tế trong khu vực và trên thế giới, tốc độ công nghiệp hóa của Việt Nam ngày càng tăng. Nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất ra đời, nhiều ngành công nghiệp, nông nghiệp phát triển mạnh. Đặt biệt là ngành công nghiệp sản xuất bia. Hiện nay cả nước có hơn 326 cơ sở sản xuất bia. 

Năm 1996, cả nước có khoảng 7 nhà máy bia liên doanh với các đối tác nước ngoài. Trong số đó có một số nhà máy sản xuất kinh doanh có hiệu quả như nhà máy bia Việt Nam (bia Tiger-Heineken), còn lại các nhà máy bia liên doanh khác sản xuất vẫn chưa đạt công suất thiết kế. Trong khi đó, sản phẩm bia nội địa vẫn tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của mình trên thị trường nội địa, được người tiêu dùng ưa thích, tín nhiệm và chiếm thị phần lớn.


M_tả

Thiết kế nhà máy sản xuất cồn etylic từ rỉ đường năng suất 75000 lít trên ngày (Thuyết minh + Bản vẽ)

 


Rượu là đồ uống có mặt khắp mọi nơi trên thế giới, từ những loại rất ngon và đắt đỏ như vang, whisky, vodka cho đến những loại bình dân, luôn có mặt trong mọi cuộc vui đến bữa ăn hằng ngày. Ngoài mục đích sử dụng làm đồ uống, rượu etylic còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như: trong công nghệ hoá chất, làm dung môi cho các phản ứng hoá học, nguyên liệu. Đối với quốc phòng rượu etylic được dùng làm thuốc súng không khói, nhiên liệu hoả tiễn. Trong y tế, rượu etylic là chất sát trùng hoặc pha thuốc. Trong nông nghiệp, rượu còn dùng sản xuất thuốc trừ sâu. Đối với ngành dệt rượu còn dùng làm thuốc nhuộm, tơ nhân tạo, dùng làm sơn vecni trong chế biến gỗ. Trong tương lai rượu được sử dụng làm nhiên liệu sinh học vì sản phẩm cháy không gây ô nhiễm môi trường.

 


Rượu là đồ uống có mặt khắp mọi nơi trên thế giới, từ những loại rất ngon và đắt đỏ như vang, whisky, vodka cho đến những loại bình dân, luôn có mặt trong mọi cuộc vui đến bữa ăn hằng ngày. Ngoài mục đích sử dụng làm đồ uống, rượu etylic còn được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác như: trong công nghệ hoá chất, làm dung môi cho các phản ứng hoá học, nguyên liệu. Đối với quốc phòng rượu etylic được dùng làm thuốc súng không khói, nhiên liệu hoả tiễn. Trong y tế, rượu etylic là chất sát trùng hoặc pha thuốc. Trong nông nghiệp, rượu còn dùng sản xuất thuốc trừ sâu. Đối với ngành dệt rượu còn dùng làm thuốc nhuộm, tơ nhân tạo, dùng làm sơn vecni trong chế biến gỗ. Trong tương lai rượu được sử dụng làm nhiên liệu sinh học vì sản phẩm cháy không gây ô nhiễm môi trường.


M_tả

Đồ án thiết kế nhà máy sản xuất gạch ốp lát ceramic

 


Từ xa xưa con người đã biết làm ra nhiều sản phẩm gốm sứ thủ công, đơn giản phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt. Ngày nay, trên Thế giới, kĩ thuật sản xuất gốm sứ đã trở thành một ngành công nghiệp phát triển với kĩ thuật sản xuất hiện đại đã cho ra đời nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng được ứng dụng trong nhiều nghành kĩ thuật như: Điện, điện tử, tự động hoá, điều  khiển,  xây dựng và dân dụng .v.v…   

         Nước ta có nguồn nguyên liệu dồi dào nên có thể phát triển nghành công nghiệp Gốm sứ không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu để phát triển nền kinh tế, góp phần tăng thu nhập quốc dân. Tuy nhiên, kĩ thuật còn lạc hậu nên chưa có được những sản phẩm chất lượng cao. Bởi vậy, việc xây dựng những nhà máy gốm sứ với công nghệ hiện đại là rất cần thiết trong nền kinh tế quốc dân.

         

 


Từ xa xưa con người đã biết làm ra nhiều sản phẩm gốm sứ thủ công, đơn giản phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt. Ngày nay, trên Thế giới, kĩ thuật sản xuất gốm sứ đã trở thành một ngành công nghiệp phát triển với kĩ thuật sản xuất hiện đại đã cho ra đời nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng được ứng dụng trong nhiều nghành kĩ thuật như: Điện, điện tử, tự động hoá, điều  khiển,  xây dựng và dân dụng .v.v…   

         Nước ta có nguồn nguyên liệu dồi dào nên có thể phát triển nghành công nghiệp Gốm sứ không chỉ phục vụ cho nhu cầu trong nước mà còn xuất khẩu để phát triển nền kinh tế, góp phần tăng thu nhập quốc dân. Tuy nhiên, kĩ thuật còn lạc hậu nên chưa có được những sản phẩm chất lượng cao. Bởi vậy, việc xây dựng những nhà máy gốm sứ với công nghệ hiện đại là rất cần thiết trong nền kinh tế quốc dân.

         


M_tả

Đề tài Sản xuất phở ăn liền



NỘI DUNG:


A. GIỚI THIỆU CHUNG. 3


I.L ị ch s ử và tính tiện dụng . 3


1.Lịch sử . 3


2.Tính tiện dụng.4




NỘI DUNG:


A. GIỚI THIỆU CHUNG. 3


I.L ị ch s ử và tính tiện dụng . 3


1.Lịch sử . 3


2.Tính tiện dụng.4



M_tả

Tìm hiểu về độc tố ochratoxin



đậu, đỗ và lạc là nguồn năng lượng chính nuôi sống loài người. Vì thế, việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng nông sản là một vấn đề được các tổ chức quốc tế cũng như các cơ quan khoa học về lương thực thực phẩm của thế giới đặc biệt quan tâm.


Việc nâng cao chất lượng nông sản bao gồm các kĩ thuật bảo quản gìn giữ các giá trị dinh dưỡng, ngăn chặn các chất độc hại nhiễm trên các nông sản đó đồng thời chế biến nông sản thành những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao là một trong những phần cần thiết đối với ngành nông nghiệp nước ta.



đậu, đỗ và lạc là nguồn năng lượng chính nuôi sống loài người. Vì thế, việc nghiên cứu để nâng cao chất lượng nông sản là một vấn đề được các tổ chức quốc tế cũng như các cơ quan khoa học về lương thực thực phẩm của thế giới đặc biệt quan tâm.


Việc nâng cao chất lượng nông sản bao gồm các kĩ thuật bảo quản gìn giữ các giá trị dinh dưỡng, ngăn chặn các chất độc hại nhiễm trên các nông sản đó đồng thời chế biến nông sản thành những thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao là một trong những phần cần thiết đối với ngành nông nghiệp nước ta.


M_tả

Nghiên cứu khả năng xử lý phân dê của trùn quế (perionyx excavatus)

 


Ở Việt Nam, hiện nay phân dê thường được ủ tự nhiên rồi làm phân bón một cách đơn thuần hoặc thải ngay tại khu vực chăn nuôi mà không được thu gom xử lý, gây ô nhiễm môi trường, là nguồn phát sinh dịch bệnh và mất cảnh quan môi trường. Đề tài “Nghiên cứu khả năng xử lý phân dê của trùn quế (Perionyx excavatus)” được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ trùn giống so với khối lượng phân xử lý và tỉ lệ chất độn (bã mía) phù hợp để trùn quế phát triển mạnh nhất và cho hiệu quả xử lý phân dê tốt nhất.

 


Ở Việt Nam, hiện nay phân dê thường được ủ tự nhiên rồi làm phân bón một cách đơn thuần hoặc thải ngay tại khu vực chăn nuôi mà không được thu gom xử lý, gây ô nhiễm môi trường, là nguồn phát sinh dịch bệnh và mất cảnh quan môi trường. Đề tài “Nghiên cứu khả năng xử lý phân dê của trùn quế (Perionyx excavatus)” được thực hiện nhằm xác định tỉ lệ trùn giống so với khối lượng phân xử lý và tỉ lệ chất độn (bã mía) phù hợp để trùn quế phát triển mạnh nhất và cho hiệu quả xử lý phân dê tốt nhất.


M_tả

Báo cáo công nghệ sản xuất nước cam

 


NỘI DUNG:


Chương 1: Giới thiệu chung 1

1. Sơ lược về đồ hộp nước quả: 1

2. Nước cam là gì ? 3

3. Lịch sử hình thành nước cam đóng hộp: 3

4. Một số sản phẩm trên thị trường: 3

 


NỘI DUNG:


Chương 1: Giới thiệu chung 1

1. Sơ lược về đồ hộp nước quả: 1

2. Nước cam là gì ? 3

3. Lịch sử hình thành nước cam đóng hộp: 3

4. Một số sản phẩm trên thị trường: 3


M_tả

Thiết kế phân xưởng sản xuất axit sunfuric năng suất 60.000 tấn trên năm, nguyên liệu quặng pyrit

 


Từ lâu loài người đã biết đến axit sunfuric, từ thế kỷ X người ta đã điều trế axit sunfuric bằng cách chưng cất sunfat sát ở nhiệt độ cao sẽ thu được SO2 và SO3. Sau khi làm lạnh hỗn hợp khí SO2 và SO3 cùng với hơi nước sẽ tạo thành H2SO4, nhưng phương pháp này có năng suất thấp, giá thành cao. Đến cuối thế kỷ XV người ta đốt Lưu huỳnh và Diêm tiêu có thấm nước để điều chế axit sunfuric cho y học. Năm 1740 nhà máy sản xuất axit sunfuric được xây dựng ở Anh. Nguyên tắc sản xuất, đốt Lưu huỳnh và Muối nitrat trong các bình kim loại sau đó hấp thụ khí bay ra bằng nước trong bình thuỷ tính. Năm 1796 người ta thay thế bình thuỷ tinh bằng phương pháp phòng chì. Quá trình sản xuất gián đoạn, ôxit Nitơ thải ra ngoài ảnh hưởng đến môi trường. Đầu thế kỷ XIX bắt đầu đốt Lưu huỳnh trong các lò riêng, còn các ôxit Nitơ điều trế bằng cách dùng axit sunfuric phân huỷ các muối Nitơrat và người ta đặt một số tháp ở trước phòng chì để tách một số ôxit Nitơ hoà tan trong một số sản phẩm và đặt một số tháp sau phòng chì để hấp thụ ôxit Nitơ bay theo khí thải. Do đó, tăng được năng suất và giảm giá thành sản phẩm. Đầu thế kỷ XX người ta dùng tháp đệm thay các phòng chì. Từ đó, phương pháp tháp được hình thành  có năng suất lớn hơn nhiều so với phương pháp phòng trì. Nhưng phương pháp này chỉ điều chế được axit sunfuric có nồng độ 75% và độ tinh khiết của sản phẩm không cao.

       

 


Từ lâu loài người đã biết đến axit sunfuric, từ thế kỷ X người ta đã điều trế axit sunfuric bằng cách chưng cất sunfat sát ở nhiệt độ cao sẽ thu được SO2 và SO3. Sau khi làm lạnh hỗn hợp khí SO2 và SO3 cùng với hơi nước sẽ tạo thành H2SO4, nhưng phương pháp này có năng suất thấp, giá thành cao. Đến cuối thế kỷ XV người ta đốt Lưu huỳnh và Diêm tiêu có thấm nước để điều chế axit sunfuric cho y học. Năm 1740 nhà máy sản xuất axit sunfuric được xây dựng ở Anh. Nguyên tắc sản xuất, đốt Lưu huỳnh và Muối nitrat trong các bình kim loại sau đó hấp thụ khí bay ra bằng nước trong bình thuỷ tính. Năm 1796 người ta thay thế bình thuỷ tinh bằng phương pháp phòng chì. Quá trình sản xuất gián đoạn, ôxit Nitơ thải ra ngoài ảnh hưởng đến môi trường. Đầu thế kỷ XIX bắt đầu đốt Lưu huỳnh trong các lò riêng, còn các ôxit Nitơ điều trế bằng cách dùng axit sunfuric phân huỷ các muối Nitơrat và người ta đặt một số tháp ở trước phòng chì để tách một số ôxit Nitơ hoà tan trong một số sản phẩm và đặt một số tháp sau phòng chì để hấp thụ ôxit Nitơ bay theo khí thải. Do đó, tăng được năng suất và giảm giá thành sản phẩm. Đầu thế kỷ XX người ta dùng tháp đệm thay các phòng chì. Từ đó, phương pháp tháp được hình thành  có năng suất lớn hơn nhiều so với phương pháp phòng trì. Nhưng phương pháp này chỉ điều chế được axit sunfuric có nồng độ 75% và độ tinh khiết của sản phẩm không cao.

       


M_tả

SLIDE - Thành phần chất phụ gia sử dụng trong sản xuất tương ớt

  


Tương ớt nhìn chung rất đa dạng về hương vị nhờ việc kết hợp với các phụ gia (tỏi, dấm, đường, cà chua, vừng, riềng, mỡ nước hoặc dầu ăn v.v.). 

Tương ớt trưng thường rất cay nên hợp với các loại bún nước, bánh đa nước,  làm từ ớt tươi hoặc ớt khô được xay thô không cần quá nhuyễn sau đó xào trong mỡ. 

Tương ớt chua sử dụng cả cà chua và dấm thanh để giảm bớt độ cay,  cho một số món ăn :phở, cơm rang. 

  


Tương ớt nhìn chung rất đa dạng về hương vị nhờ việc kết hợp với các phụ gia (tỏi, dấm, đường, cà chua, vừng, riềng, mỡ nước hoặc dầu ăn v.v.). 

Tương ớt trưng thường rất cay nên hợp với các loại bún nước, bánh đa nước,  làm từ ớt tươi hoặc ớt khô được xay thô không cần quá nhuyễn sau đó xào trong mỡ. 

Tương ớt chua sử dụng cả cà chua và dấm thanh để giảm bớt độ cay,  cho một số món ăn :phở, cơm rang. 


M_tả

Nghiên cứu bào chế thuốc tiêm liposome doxorubicin đã PEG hóa

 


oxorubicin ( OX) là hoạt chất đƣợc sử dụng phổ biến trong điều trị nhiều loại ung thƣ. Tuy nhiên tác dụng điều trị của doxorubicin bị hạn chế bởi chính độc tính của nó, đặc biệt là tác dụng trên tim và tủy xƣơng. Vì vậy thuốc điều trị tại đích đang là một trong những lựa chọn tối ƣu hiện nay trong việc giảm độc tính, tăng hiệu quả điều trị của doxorubicin và các hóa trị liệu khác, trong đó liposome là một hệ mang thuốc đầy triển vọng. Nhƣng một trong những nhƣợc điểm lớn nhất của liposome qui ƣớc đó chính là dễ bị thanh thải bởi hệ đại thực bào, thời gian tuần hoàn khó kéo dài.

 


oxorubicin ( OX) là hoạt chất đƣợc sử dụng phổ biến trong điều trị nhiều loại ung thƣ. Tuy nhiên tác dụng điều trị của doxorubicin bị hạn chế bởi chính độc tính của nó, đặc biệt là tác dụng trên tim và tủy xƣơng. Vì vậy thuốc điều trị tại đích đang là một trong những lựa chọn tối ƣu hiện nay trong việc giảm độc tính, tăng hiệu quả điều trị của doxorubicin và các hóa trị liệu khác, trong đó liposome là một hệ mang thuốc đầy triển vọng. Nhƣng một trong những nhƣợc điểm lớn nhất của liposome qui ƣớc đó chính là dễ bị thanh thải bởi hệ đại thực bào, thời gian tuần hoàn khó kéo dài.


M_tả

Phương pháp sản xuất xà phòng

 


Các xà phòng thương mại làm cho các hệ thống hiện nay là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài của công nghệ tiến bộ. Theo truyền thuyết La Mã cổ đại, xà phòng có tên từ núi Sapo, nơi nó lần đầu tiên được thực hiện bởi tai nạn là kết quả của mỡ động vật từ những hy sinh động vật phản ứng với tro từ đốt gỗ để sản xuất một hỗn hợp có khả năng làm sạch quần áo tốt hơn. Như thế kỷ tiến triển, xà phòng làm cho quá trình phát triển thành một loạt hợp chất béo động vật và dầu thực vật đã được đun sôi với tro, soda tro, hoặc soda ăn da trong ấm nhỏ để sản xuất xà phòng thô. 

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, các lô lớn hơn đã được sản xuất bởi những gì ngày nay thường được gọi là xà phòng ấm quá trình ra. Liên tục làm cho xà phòng bắt đầu vào giữa thập niên 1940 với sự phát triển của các quá trình để chuyển đổi mỡ và dầu thành các axít béo thông qua một phản ứng thủy phân được thực hiện dưới áp lực cao và nhiệt độ.

 


Các xà phòng thương mại làm cho các hệ thống hiện nay là kết quả của một quá trình tiến hóa lâu dài của công nghệ tiến bộ. Theo truyền thuyết La Mã cổ đại, xà phòng có tên từ núi Sapo, nơi nó lần đầu tiên được thực hiện bởi tai nạn là kết quả của mỡ động vật từ những hy sinh động vật phản ứng với tro từ đốt gỗ để sản xuất một hỗn hợp có khả năng làm sạch quần áo tốt hơn. Như thế kỷ tiến triển, xà phòng làm cho quá trình phát triển thành một loạt hợp chất béo động vật và dầu thực vật đã được đun sôi với tro, soda tro, hoặc soda ăn da trong ấm nhỏ để sản xuất xà phòng thô. 

Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng, các lô lớn hơn đã được sản xuất bởi những gì ngày nay thường được gọi là xà phòng ấm quá trình ra. Liên tục làm cho xà phòng bắt đầu vào giữa thập niên 1940 với sự phát triển của các quá trình để chuyển đổi mỡ và dầu thành các axít béo thông qua một phản ứng thủy phân được thực hiện dưới áp lực cao và nhiệt độ.


M_tả

Quy trình sản xuất bột kem không sữa tại công ty cổ phần nguyên liệu thực phẩm á châu sài gòn



Bột kem không sữa được chế biến từ các thành phần có nguồn gốc từ thực vật, đa dạng phong phú. Chẳng hạn như dầu cọ, màu Beta-caroten được chiết xuất từ trái cọ, đường thủy phân từ khoai mì và kết hợp thêm 1 số chất phụ gia khác.

Bột kem không sữa là sản phẩm mới, sản xuất và áp dụng công nghệ sấy phun và sấy tầng sôi để làm ra sản phẩm có khả năng hòa tan trong nước tốt, giảm giá thành, tăng tính cạnh tranh, đa dạng hóa sản phẩm, kéo dài thời gian bảo quản.



Bột kem không sữa được chế biến từ các thành phần có nguồn gốc từ thực vật, đa dạng phong phú. Chẳng hạn như dầu cọ, màu Beta-caroten được chiết xuất từ trái cọ, đường thủy phân từ khoai mì và kết hợp thêm 1 số chất phụ gia khác.

Bột kem không sữa là sản phẩm mới, sản xuất và áp dụng công nghệ sấy phun và sấy tầng sôi để làm ra sản phẩm có khả năng hòa tan trong nước tốt, giảm giá thành, tăng tính cạnh tranh, đa dạng hóa sản phẩm, kéo dài thời gian bảo quản.


M_tả

THIẾT KẾ NHÀ MÁY SẢN XUẤT NƯỚC ÉP CAM



 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TI:

Nước cam hay nước cam ép, nước cam vắt l một loại thức uống phổ biến được lm từ cam bằng cch chiết xuất nước từ tri cam tươi bằng việc vắt hay ép đó l một loại nước cam tươi. Đối với cc sản phẩm nước cam được sản xuất theo kiểu cơng nghiệp, nước cam được chế biến cĩ cho thm cc phụ gia, bảo quản rồi đóng chai hoặc hộp giấy để tiu thụ.

Hiện nay nước ép cam được coi l vua thống trị vương quốc nước p hoa quả trn tồn thế giới.


II. TỔNG QUAN VỀ CAM:



 I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TI:

Nước cam hay nước cam ép, nước cam vắt l một loại thức uống phổ biến được lm từ cam bằng cch chiết xuất nước từ tri cam tươi bằng việc vắt hay ép đó l một loại nước cam tươi. Đối với cc sản phẩm nước cam được sản xuất theo kiểu cơng nghiệp, nước cam được chế biến cĩ cho thm cc phụ gia, bảo quản rồi đóng chai hoặc hộp giấy để tiu thụ.

Hiện nay nước ép cam được coi l vua thống trị vương quốc nước p hoa quả trn tồn thế giới.


II. TỔNG QUAN VỀ CAM:


M_tả

Phân tích đánh giá chất lượng cảm quan sản phẩm mứt vỏ cam

 


Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới ẩm nên cây ăn trái nhiệt đới đa dạng và phong phú, trong đó cam là loại cây ăn trái rất phổ biến, trồng được khắp cả các vùng miền ở nước ta, có quanh năm, là loại trái cây ngon, giá trị dinh dưỡng cao nhưng giá thành rẻ, đặc biệt có nhiều tác dụng cho sức khỏe như: thanh nhiệt, giải độc, trừ ho... nên rất được ưa chuộng.

Cam được tận dụng tất cả các bộ phận: lá, hoa, vỏ, quả đều chứa tinh dầu, dùng điều chế hương liệu; trong hạt cam có rất nhiều pectin, có thể thay thế pectin hóa học trong chế biến thực phẩm, trong sản xuất thuốc chữa bệnh; nước cam chứa nhiều chất bổ dưỡng như các loại đường trái cây, bêta – caroten, vitamin C và các chất khoáng Phospho, Sắt.

 


Việt Nam là nước nằm trong vùng nhiệt đới ẩm nên cây ăn trái nhiệt đới đa dạng và phong phú, trong đó cam là loại cây ăn trái rất phổ biến, trồng được khắp cả các vùng miền ở nước ta, có quanh năm, là loại trái cây ngon, giá trị dinh dưỡng cao nhưng giá thành rẻ, đặc biệt có nhiều tác dụng cho sức khỏe như: thanh nhiệt, giải độc, trừ ho... nên rất được ưa chuộng.

Cam được tận dụng tất cả các bộ phận: lá, hoa, vỏ, quả đều chứa tinh dầu, dùng điều chế hương liệu; trong hạt cam có rất nhiều pectin, có thể thay thế pectin hóa học trong chế biến thực phẩm, trong sản xuất thuốc chữa bệnh; nước cam chứa nhiều chất bổ dưỡng như các loại đường trái cây, bêta – caroten, vitamin C và các chất khoáng Phospho, Sắt.


M_tả

Tìm hiểu về các quy trình công nghệ chế biến sản phẩm cơm ăn liền (quick cooking rice)



Tìm hiểu về các quy trình công nghệ chế biến sản phẩm cơm ăn liền (Quick cooking rice) được tiến hành tại trường Kỹ Thuật Công Nghệ TpHCM. Thời gian thực hiện từ ngày 25/06/2012 đến ngày 07/10/2012.

Đề tài nhằm tìm hiểu một số quy trình công nghệ chế biến cơm nấu nhanh cũng như các đặc tính ưu việt của loại sản phẩm này mang lại cho người tiêu dùng. Cơm nấu nhanh là dạng sản phẩm gạo được hồ hóa rồi sấy khô nhằm giảm bớt thời gian nấu khi người tiêu dùng sử dụng. Khi cần dùng, chỉ cần ngâm trong nước thường hay nước ấm vài phút là có thể thành cơm tươi và

dùng được ngay. Cơm là một loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn, việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm cơm ăn liền được quan tâm, góp phần tạo ra một sản phẩm không mất nhiều thời gian chuẩn bị mà vẫn đảm bảo được yêu cầu dinh dưỡng, thơm ngon cả về hương vị với giá cả phù hợp. Sản phẩm này hiện nay vẫn chưa được bán trên thị trường Việt Nam.

Đề tài tìm hiểu chi tiết về các giai đoạn và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình chế biến cũng như thời gian, các đặc tính và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm so với cơm nấu theo phương pháp thông thường. Các quá trình chính hình thành cũng như đặc tính nguyên liệu cần có để chế biến sản phẩm. Nhằm đề xuất khả năng ứng dụng sản xuất cơm nấu nhanh ở Việt Nam.



Tìm hiểu về các quy trình công nghệ chế biến sản phẩm cơm ăn liền (Quick cooking rice) được tiến hành tại trường Kỹ Thuật Công Nghệ TpHCM. Thời gian thực hiện từ ngày 25/06/2012 đến ngày 07/10/2012.

Đề tài nhằm tìm hiểu một số quy trình công nghệ chế biến cơm nấu nhanh cũng như các đặc tính ưu việt của loại sản phẩm này mang lại cho người tiêu dùng. Cơm nấu nhanh là dạng sản phẩm gạo được hồ hóa rồi sấy khô nhằm giảm bớt thời gian nấu khi người tiêu dùng sử dụng. Khi cần dùng, chỉ cần ngâm trong nước thường hay nước ấm vài phút là có thể thành cơm tươi và

dùng được ngay. Cơm là một loại thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn, việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm cơm ăn liền được quan tâm, góp phần tạo ra một sản phẩm không mất nhiều thời gian chuẩn bị mà vẫn đảm bảo được yêu cầu dinh dưỡng, thơm ngon cả về hương vị với giá cả phù hợp. Sản phẩm này hiện nay vẫn chưa được bán trên thị trường Việt Nam.

Đề tài tìm hiểu chi tiết về các giai đoạn và khảo sát các yếu tố ảnh hưởng trong quá trình chế biến cũng như thời gian, các đặc tính và giá trị dinh dưỡng của sản phẩm so với cơm nấu theo phương pháp thông thường. Các quá trình chính hình thành cũng như đặc tính nguyên liệu cần có để chế biến sản phẩm. Nhằm đề xuất khả năng ứng dụng sản xuất cơm nấu nhanh ở Việt Nam.


M_tả

CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN CƠM ĂN LIỀN VÀ MỘT SỐ NGHIÊN CỨU MỚI TRONG SẢN XUẤT CƠM ĂN LIỀN

 


Khí hậu Việt Nam thuộc vùng khí hậu nóng ẩm, cộng với đất đai  màu mỡ nên khả năng trồng trọt các loại cây lương thực nói chung và cây lúa nói riêng có nhiều điều kiện thuận lợi. Cây lúa xuất hiện ở Việt Nam từ 8.000 – 10.000 năm trước công nguyên. Một số nghiên cứu cuả các chuyên gia trên thế giới đã cho thấy Việt Nam là một trong thủy tổ của cây lúa trồng xuất hiện trong thời nguyên thủy ở vùng Đông Nam Á. Hay nói cách khác Việt Nam được coi là quê hương của cây lúa. 

 


Khí hậu Việt Nam thuộc vùng khí hậu nóng ẩm, cộng với đất đai  màu mỡ nên khả năng trồng trọt các loại cây lương thực nói chung và cây lúa nói riêng có nhiều điều kiện thuận lợi. Cây lúa xuất hiện ở Việt Nam từ 8.000 – 10.000 năm trước công nguyên. Một số nghiên cứu cuả các chuyên gia trên thế giới đã cho thấy Việt Nam là một trong thủy tổ của cây lúa trồng xuất hiện trong thời nguyên thủy ở vùng Đông Nam Á. Hay nói cách khác Việt Nam được coi là quê hương của cây lúa. 


M_tả

D. Luận văn chuyên ngành Hóa học - Vật liệu (Chemistry & Materials)