Đại học số - Lời giải cho bài toán phát triển nguồn nhân lực số thực hiện chuyển đổi số quốc gia
Đại học số - Lời giải cho bài toán phát triển nguồn nhân lực số thực hiện chuyển đổi số quốc gia.
Nhân lực số là lực lượng lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ CNTT , công nghệ số. Nguồn nhân lực số được xác định là một trong những yếu tố quan trọng, mang tính quyết định tới thành công của chuyển đổi số (CĐS) quốc gia.
Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 230 trường đại học (ĐH), trong đó gần 150 trường có chuyên ngành đào tạo kỹ thuật: CNTT , điện tử - viễn thông, an toàn thông tin…. Hàng năm, số lượng sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành này vào khoảng hơn 50.000 (chưa tính cao đẳng, trung cấp khoảng 12.000). Với năng lực đào tạo này , trong những năm gần đây , Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực kỹ thuật cao để thực hiện CĐS, không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng ngày càng lớn của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (DN).
T rong cơ cấu nguồn nhân lực, Việt Nam cần khoảng 2% nhân lực kỹ thuật để thực hiện CĐS quốc gia. Tỷ lệ này hiện nay mới đạt khoảng 1,3%, tỷ lệ tương đối thấp so với một số quốc gia đang phát triển như Mỹ (2%), Hàn Quốc (2,5%). Để đạt được tỷ lệ 2%, Việt Nam cần đào tạo được tối thiểu 70.000 sinh viên ĐH chuyên ngành kỹ thuật mỗi năm (tăng khoảng 40% so với hiện nay). Mục tiêu này là khó khả thi với số lượng và quy mô đào tạo của các trường ĐH truyền thống hiện nay .
Việt Nam không phải quốc gia duy nhất gặp phải vấn đề đào tạo nhân lực số. Để giải quyết vấn đề, nhiều quốc gia, điển hình là Hàn Quốc, Ấn Độ đã xác định phát triển ĐH số, là giải pháp quan trọng, đột phá để phát triển, bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nhân lực số nói riêng.
Chưa có khái niệm thống nhất rộng rãi về ĐH số nhưng có thể hiểu đơn giản, ĐH số là CĐS giáo dục ĐH, đưa toàn bộ hoạt động của trường ĐH, của giảng viên, sinh viên lên môi trường số. V à vì chuyển đổi hoàn toàn lên môi trường số, mô hình hoạt động của một trường ĐH số trở nên linh hoạt và vượt qua nhiều giới hạn về không gian, thời gian mà một ngôi trường truyền thống gặp phải, dẫn tới dịch vụ giáo dục được tiếp cận dễ dàng hơn, đào tạo được nhiều hơn, chi phí rẻ hơn, với chất lượng tối thiểu tương đương.
LƯU Ý:
Tài liệu được chia sẻ bởi CTV EBOOKBKMT "Mân Trần Lê" chỉ được dùng phục vụ mục đích học tập và nghiên cứu.
Đại học số - Lời giải cho bài toán phát triển nguồn nhân lực số thực hiện chuyển đổi số quốc gia.
Nhân lực số là lực lượng lao động trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm, dịch vụ CNTT , công nghệ số. Nguồn nhân lực số được xác định là một trong những yếu tố quan trọng, mang tính quyết định tới thành công của chuyển đổi số (CĐS) quốc gia.
Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 230 trường đại học (ĐH), trong đó gần 150 trường có chuyên ngành đào tạo kỹ thuật: CNTT , điện tử - viễn thông, an toàn thông tin…. Hàng năm, số lượng sinh viên tốt nghiệp các chuyên ngành này vào khoảng hơn 50.000 (chưa tính cao đẳng, trung cấp khoảng 12.000). Với năng lực đào tạo này , trong những năm gần đây , Việt Nam đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực kỹ thuật cao để thực hiện CĐS, không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng ngày càng lớn của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp (DN).
T rong cơ cấu nguồn nhân lực, Việt Nam cần khoảng 2% nhân lực kỹ thuật để thực hiện CĐS quốc gia. Tỷ lệ này hiện nay mới đạt khoảng 1,3%, tỷ lệ tương đối thấp so với một số quốc gia đang phát triển như Mỹ (2%), Hàn Quốc (2,5%). Để đạt được tỷ lệ 2%, Việt Nam cần đào tạo được tối thiểu 70.000 sinh viên ĐH chuyên ngành kỹ thuật mỗi năm (tăng khoảng 40% so với hiện nay). Mục tiêu này là khó khả thi với số lượng và quy mô đào tạo của các trường ĐH truyền thống hiện nay .
Việt Nam không phải quốc gia duy nhất gặp phải vấn đề đào tạo nhân lực số. Để giải quyết vấn đề, nhiều quốc gia, điển hình là Hàn Quốc, Ấn Độ đã xác định phát triển ĐH số, là giải pháp quan trọng, đột phá để phát triển, bảo đảm số lượng và chất lượng nguồn nhân lực nói chung và nhân lực số nói riêng.
Chưa có khái niệm thống nhất rộng rãi về ĐH số nhưng có thể hiểu đơn giản, ĐH số là CĐS giáo dục ĐH, đưa toàn bộ hoạt động của trường ĐH, của giảng viên, sinh viên lên môi trường số. V à vì chuyển đổi hoàn toàn lên môi trường số, mô hình hoạt động của một trường ĐH số trở nên linh hoạt và vượt qua nhiều giới hạn về không gian, thời gian mà một ngôi trường truyền thống gặp phải, dẫn tới dịch vụ giáo dục được tiếp cận dễ dàng hơn, đào tạo được nhiều hơn, chi phí rẻ hơn, với chất lượng tối thiểu tương đương.
LƯU Ý:
Tài liệu được chia sẻ bởi CTV EBOOKBKMT "Mân Trần Lê" chỉ được dùng phục vụ mục đích học tập và nghiên cứu.


.png)
%20(1).png)


.png)
.png)


Không có nhận xét nào: