Video

EBOOK - THE ART OF ELECTRONICS - Third Edition (Paul Horowitz & Winfield Hill)


EBOOK - NGHỆ THUẬT ĐIỆN TỬ - Phiên bản thứ ba (Paul Horowitz & Winfield Hill) - 1225 Trang.

In this new edition we have responded, also, to the reality that previous editions have been enthusiastically embraced by the community of practicing circuit designers, even thoughThe Art of Electronics(now 35 years in print) originated as a course textbook. So we’ve continued the “howwedo it” approach to circuit design; and we’ve expanded the depth of treatment, while (we hope) retaining the easy access and explanation of basics. At the same time we have split off some of the specifically course-related teaching and lab material into a separate Learning the Art of Electronicsvolume, a substantial expansion of the previous edition’s companionStudent Manual for The Art of Electronics.


M_tả

Phân lập và tuyển chọn vi khuẩn cố định đạm Pseudomonas spp. bón cho cây lúa cao sản vùng đồng bằng sông Cửu Long


Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích gần 4 triệu ha, trong đó có 1,7 triệu ha đất nông nghiệp được sử dụng để trồng lúa với diện tích canh tác lúa hàng năm lên đến 3,9 triệu ha (Nguyễn Thị Lang và Bùi Chí Bửu, 2008). Phân bón nói chung và phân đạm hoá học nói riêng đã góp phần quan trọng trong việc gia tăng năng suất cây trồng. Để đảm bảo năng suất, nông dân đã sử dụng rất nhiều phân bón nhưng hiện nay giá cả phân bón hóa học ngày càng tăng cao làm tăng giá thành sản xuất và giảm hiệu quả kinh tế trong nông nghiệp. Sự lạm dụng phân đạm hóa học sẽ dẫn đến chi phí cao, đồng thời cũng sẽ dẫn đến những hậu quả như thay đổi lý, hóa tính của đất, giảm độ phì, mất cân bằng sinh thái gây ảnh hưởng tiêu cực lên hệ sinh thái nên không đảm bảo thân thiện với môi trường canh tác trong nông nghiệp (Kannaiyan, 1999). Theo Võ Minh Kha (2003), cây lúa hấp thu chỉ khoảng 50-60% lượng đạm được bón vào trong đất. Số còn lại sẽ được lưu tồn trong đất hoặc bị rửa trôi gây hưởng đến môi trường nước. Bón quá nhiều phân đạm hóa học cho cây trồng đã góp phần dẫn đến chi phí sản xuất cao, hiệu quả kinh tế thấp, đồng thời không đảm bảo cho một hệ sinh thái phát triển bền vững.


M_tả

GIÁO TRÌNH - Đo bóc khối lượng và lập dự toán


Đo bóc khối lượng là xác định ra khối lượng các công tác xây dựng của công trình, hạng mục công trình trước khi chúng được thi công. Đo tính trước khối lượng trước khi thực hiện công việc nên còn được gọi là tính tiên lượng hay đo bóc tiên lượng.


M_tả

CDA TRAINNING - Hướng dẫn sử dụng Tia Portal (Lê Phước Sinh)


CDA TRAINNING - Hướng dẫn sử dụng Tia Portal (Lê Phước Sinh).


M_tả

ĐỒ ÁN - Thiết kế điều hòa không khí sử dụng hệ thống water chiller trane (Thuyết minh + Bản vẽ)


Trong 5 năm học tập tại trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, dưới sự quản lý giáo dục của nhà trường, đặc biệt là trong 3 năm học chuyên ngành Nhiệt Lạnh, em đã tích lũy được khối kiến thức vô cùng hữu ích. Em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ về nhiều mặt của thầy cô trong trường và trong Viện, các cô chú anh chị tại những nơi thực tập và các bạn, nhất là trong thời gian em thực hiện đề tài đồ án tốt nghiệp này.


M_tả

BẢN VẼ - Bơm dầu trục vít Blackmer Model 3NH (Screw Oil Pump)


This manual is intended to assist those who are involved with the installation, operation and maintenance of a Blackmer S Series TripleScrew Pumps. Strictly follow the safety rules stipulated in this manual. These instructions must be thoroughly reviewed in their entirety and fully understood prior to the pump installation, operation or maintenance care. Special appropriate attention should be given to pump lubrication, heating, cooling and sealing during pump installation, operation and maintenance.


M_tả

LUẬN VĂN - Nhu cầu giáo dục giới tính của học sinh trung học phổ thông ở Hòa Bình


Giáo dục con ngƣời phải đảm bảo phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần. Với thế hệ trẻ, giáo viên không chỉ cung cấp những tri thức khoa học đơn thuần mà còn giúp các em hiểu sâu hơn về chính bản thân mình. Đó là sự trang bị cho các em những tri thức về đời sống tâm lí, về giới tính, về tình dục để các em có ý thức hơn về những hành vi của mình. Với quan điểm này, chúng ta có thể thấy đƣợc giáo dục giới tính có vai trò hết sức quan trọng trong trƣờng học.


M_tả

LUẬN VĂN - Tìm hiểu thực trạng nhận thức của học sinh THPT về Giáo dục giới tính


Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường là sự xuất hiện của nhiều thứ văn hóa phẩm không lành mạnh có ảnh hưởng rất lớn đến trẻ ở lứa tuổi vị thành niên (VTN). Theo số liệu cuộc tổng điều tra dân số năm 1999 ở nước ta VTN chiếm 22.7% dân số và hiện nay VTN có thai ngoài ý muốn, nạo phá thai và nhiễm HIV/AIDS, các bệnh lây nhiễm qua đường tình dục ngày càng tăng, đặc biệt là các thành phố lớn [9].
Tuổi dậy thì là một giai đoạn phát triển quan trọng của một con người, nó xuất hiện với những biểu hiện thay đổi rất đặc trưng về mặt tâm sinh lý. Đó là giai đoạn từ tuổi thơ đang dần trở thành người lớn với sự trưởng thành cả về thể chất và tâm hồn rất sâu sắc. Trong thời kỳ này trẻ bắt đầu có những băn khoăn, suy nghĩ về sự biến đổi của cơ thể, những khác biệt giới tính giữa nam và nữ, và với những nhu cầu về tình bạn, tình yêu, tình dục…Tuổi dậy thì ở mỗi nền văn hóa có những đặc điểm riêng nhưng nói chung đều bộc lộ sự thay đổi về nhân cách và tâm lý, trẻ VTN luôn muốn thử sức, luôn muốn tự khẳng định, thích mạo hiểm nhưng khi gặp khó khăn, đau buồn hay thất bại lại chưa đủ bản lĩnh để lí giải, chống chọi và vượt qua. Chính trong thời điểm này nhu cầu được giáo dục giới tính (GDGT) ở trẻ vị thành niên là rất cao đặc biệt là giai đoạn đầu của tuổi dậy thì - giai đoạn trẻ rất cần được sự giúp đỡ, giáo dục để hình thành nhân cách xã hội và phát triển định hướng giáo dục giới tính nhằm xây dựng mối quan hệ lành mạnh và có trách nhiệm với bạn bè, gia đình, biết tôn trọng bản thân và bạn khác giới.


M_tả

GIÁO TRÌNH - Hóa học xanh (Lê Thị Thanh Hương)


Hóa học xanh là khái niệm về phát triển hóa học một cách bền vững (còn gọi là hóa học bền vững), qua đó khuyến khích phát triển các phương pháp và quá trình tạo ra sản phẩm nhằm hạn chế sản xuất và sử dụng các hóa chất độc hại. Hóa học xanh tìm cách giảm thiểu và ngăn ngừa ô nhiễm tại nguồn của nó.

Khái niệm về Hóa học xanh xuất phát từ các kiến nghị của Hiệp hội phòng chống ô nhiễm được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua vào năm 1990. Ý tưởng về cách tốt nhất để giảm chi phí do ô nhiễm là kiểm soát ngay tại nguồn hơn là giải quyết các vấn đề liên quan đến thải chất độc hóa học vào môi trường,

Hóa học xanh kết hợp cách tiếp cận mới đối với quá trình tổng hợp, chế biến và sử dụng các hóa chất sao cho giảm thiểu mối đe dọa đối với sức khỏe và môi trường.

Năm 1998, Paul T. Anastas và John C. Warner thuộc Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) đã đề ra 12 nguyên tắc nền tảng cho Hóa học xanh. Bất kỳ quá trình hóa học nào đều phải đáp ứng được 12 tiêu chuẩn trên mới được xem là thực sự bền vững, không tác động xấu tới môi trường. Năm 2001, Winterton đưa ra 12 nguyên tắc khác, nhằm làm rõ hơn 12 nguyên tắc ban đầu. Năm 2005, Tang, Smith và Poliakoff rút gọn 12 nguyên tắc lại thành thuật ngữ PRODUCTIVELY để dễ nhớ.

Nhu cầu phát triển Hóa học xanh: sự hình thành và phát triển một nền hóa học xanh hay hóa học bền vững xuất phát từ nhu cầu thực tế. Ngay từ năm 1850, những thành tích đạt được trong hóa học, đặc biệt ở quy mô công nghiệp, thường để lại hậu quả lớn có hại cho môi trường. Đôi khi, không phải chỉ đơn giản là các sản phẩm hóa học được sản xuất gây hại cho môi trường mà ngay trong quá trình sản xuất, các thao tác, xử lý sản phẩm có độ rủi ro cao và hình thành chất thải hóa học rất khó để loại bỏ. Xuyên suốt trong lịch sử, loài người chúng ta đã phải sống với sự độc hại và ô nhiễm thường xuyên, nhưng chỉ thời gian gần đây chúng ta mới được trang bị những kiến thức để hiểu về nguyên nhân và hậu quả của chúng. Đặc biệt, phải đến khi tai nạn khủng khiếp của ngành sản xuất hóa chất xảy ra ở Bohpal, Ấn Độ năm 1984, Liên Hiệp Quốc mới đề ra khẩu hiệu “phát triển bền vững” (1987).


M_tả

ĐỒ ÁN - Thiết kế và chế tạo máy in 3d cơ cấu Corexy


Trong những năm trở lại đây, công nghệ in FDM (Fused Deposition Molding) được phát triển rất nhanh với những ưu điểm như vật liệu dễ kiếm, không gây độc hại, kết cấu máy đơn giản, chi phí thấp, …. Đề tài được xây dựng trên cơ sở những ưu điểm của công nghệ in 3D, phát huy những ưu điểm và hạn chế một số nhược điểm của máy in 3D. Nội dung của đề tài là nghiên cứu thiết kế truyền động cho máy in 3D, tối ưu hóa đường di chuyển đầu phun, để có thể tối ưu hóa giữa chất lượng mẫu in và thời gian in.


M_tả