Showing posts with label D. Luận văn chuyên ngành Nông lâm nghiệp (Agriculture and Forestry). Show all posts
Showing posts with label D. Luận văn chuyên ngành Nông lâm nghiệp (Agriculture and Forestry). Show all posts

LUẬN VĂN - Thiết kế nhà chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm với năng suất 50 tấn sản phẩm trên ngày


Cùng với sự khuyến khích của nhà nước, ngành chăn nuôi và trồng trọt trong tương lai sẽ phát triển mạnh với quy mô lớn theo hướng hiện đại. Trong sự phát triển đó thì vai trò của ngành công nghệ chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm là rất quan trọng, đây là một ngành không thể thiếu, tồn tại song song, hỗ trợ cho sự phát triển của ngành chăn nuôi nói riêng và góp phần phát triển kinh tế đất nước nói chung.
Trong thời gian vừa qua ngành chăn nuôi có nhiều biến động, chế biến thức ăn chăn nuôi gặp không ít khó khăn nhưng nó vẫn phát triển, đây là một điều đáng mừng. Với những kết quả mà ngành chế biến thức ăn chăn nuôi mang lại tác giã đã chọn đề tài: “Thiết kế nhà chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm với năng suất 50 tấn sản phẩm/ngày”. Với mục đích sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại tạo ra lượng thức ăn chăn nuôi chất lượng cao sẽ đáp ứng được nhu cầu thức ăn chăn nuôi, tạo công việc làm cho người lao động, nâng cao năng suất, hiệu quả trong chăn nuôi.


M_tả

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm ương nuôi ấu trùng Phyllosoma tôm hùm bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) giai đoạn I và II tro


Tôm hùm là một đối tượng nuôi có giá trị kinh tế. Từ năm 1992 nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam đã bắt đầu phát triển. Số lượng lồng nuôi tôm hùm đã tăng từ khoảng 500 lồng (1994) lên đến 55.000 lồng (2006). Sản lượng tôm hùm nuôi cũng tăng rất nhanh, từ 25 tấn (1994) lên 2300 tấn (2004), sau đó ổn định khoảng 2000 tấn/năm. Nghề nuôi tôm hùm bằng lồng trên biển đã thực sự góp phần thay đổi đờisống kinh tế -xã hội của các cộng đồng ngư dân ven biển. Đồng thời Việt Nam đã  trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng tôm hùm nuôi với kim ngạch xuất khẩu khoảng 100 triệu đô la Mỹ hàng năm[1].


M_tả

Thử nghiệm nuôi tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) trong hệ thống bể tuần hoàn


Tôm hùm bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) là loài hải đặc sản có chất lượng dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, ngày càng được quan tâm phát triển trong nuôi trồng thủy sản tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, nghề nuôi tôm hùm hiện đang phát triển mạnh mẽ, tập trung tại các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, từ Bình Định đến Bình Thuận, với hình thức chính là nuôi lồng bè trên biển. Theo Tổng cục Thủy sản (4/2017), sản lượng tôm hùm nuôi trung bình hàng năm trong 5 năm qua dao động từ 1.200 - 1.500 tấn/năm, năm 2016 sản lượng đạt hơn 1.300 tấn, với số lượng lồng nuôi thương phẩm hiện nay đạt hơn 58.000 lồng.


M_tả

NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ MÁY TRỘN THỨC ĂN KIỂU VÍT ĐỨNG


Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính của kinh tế nông nghiệp. Nó có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa đất nước. Để có sự phát triển lâu dài và bền vững điều đầu tiên là phải đảm bảo nguồn thức ăn đầy duur dinh dưỡng và an toàn về độ sạch cần thiết cho vật nuôi theo từng thời kỳ sinh trưởng của vật nuôi.


M_tả

Đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch đối với Protein MBP-VT2eB trên heo


1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Độc tố verotoxin VT2e do E. coli tiết ra là tác nhân chính gây bệnh phù trên heo sau cai sữa gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi heo ở nƣớc ta. Việc sử dụng kháng sinh để điều trị phù ở heo tuy có hiệu quả nhƣng gây ra nhiều triệu chứng phụ nhƣ rối loạn tiêu hoá, tạo ra các chủng vi sinh vật kháng kháng sinh gây khó khăn cho những lần trị bệnh về sau. Do đó sử dụng vacxin để phòng bệnh phù do E. coli trên heo đƣợc xem là liệu pháp thích hợp nhất. Một số tác giả đã thử nghiệm vacxin nhƣợc độc, hoặc vacxin chết .bƣớc đầu ghi nhận hiệu quả bảo vệ nhất định. Tuy vậy, các phản ứng phụ vẫn là những trở ngại lớn cho việc áp dụng rộng rãi những loại vacxin này. Vacxin tái tổ hợp đƣợc tạo ra bằng cách loại bỏ yếu tố gây bệnh của vi sinh vật mà vẫn giữ đƣợc đặc tính kháng nguyên của chúng đang đƣợc cá c nhà khoa học quan tâm nhằm khắc phục những nhƣợc điểm nói trên. Hiện nay, TS. Nguyễn Ngọc Hải và các cộng sự đã thành công trong việc tạo ra đƣợc E. coli mang gen mã hoá cho tiểu phần B của độc tố VT2e và tinh sạch đƣợc protein này.


M_tả

Nghiên cứu ứng dụng bột trà xanh matcha trong sản xuất thực phẩm chức năng


Bột trà xanh Matcha của Nhật bản là sản phẩm chứa nhiều chất có lợi cho sức khoẻ, chứa chất EGCG ngăn ngừa ung thư, các chất ống oxy hoá, bảo vệ làn da, ổn ñịnh huyết áp, xoa dịu vết thương trên da…[12], [14], [21]. Với những tác dụng ñến sức khoẻ của con người mà Matcha mang lại, việc nghiên cứu và tìm ra quy trình sản xuất thực phẩm chức năng mới có bổ sung Matcha có hương vị lạ, màu sắc ñặc trưng, có lợi cho sức khoẻ người tiêu dùng nhằm ña dạng hoá sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường là cần thiết. Vì vậy tôi ñã chọn ñề tài “Nghiên cứu ứng dụng bột trà xanh Matcha trong sản xuất thực phẩm chức năng”.


M_tả

Nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của Sâm Việt Nam chế biến


Hồng sâm được chế biến từ Nhân sâm (Panax ginseng C.A. Meyer) theo phương pháp cổ truyền bằng cách hấp củ sâm tươi ở nhiệt độ cao. Quá trình chế biến làm thay đổi về mặt thể chất và thành phần hóa học, đặc biệt là thành phần ginsenosid. Đồng thời tác dụng sinh học được gia tăng như tác dụng kháng phân bào, kháng viêm, chống oxy hóa, chống kết tập tiểu cầu... Do vậy, Hồng sâm được cho là tốt hơn, đắt tiền hơn và sử dụng phổ biến hơn Bạch sâm. Sâm Việt Nam (Sâm VN, Panax vietnamensis Ha et Grushv.) được phát hiện từ năm 1973, đến nay đã được thế giới biết đến qua những nghiên cứu về thành phần hóa học và tác dụng dược lý. Nhóm nghiên cứu cũng đã sơ bộ khảo sát sự thay đổi thành phần Sâm VN bằng cách hấp ở khoảng 0-8 giờ. Quá trình chế biến Sâm VN tương tự theo cách của Hồng sâm làm gia tăng thành phần ginsenosid kém phân cực và làm giảm ginsenosid phân cực bị thay đổi trong quá trình chế biến.


M_tả

TIỂU LUẬN - Phân tích và tách chiết Alkaloid trong thực vật


Alakloid thường được biết đến như một hợp chất gây độc thương thấy trong thực vật. Đặc biệt, alkaloid có hoạt tính sinh lý cao đối với cơ thể người và động vật, nhất là đối với hệ thần kinh. Với liều lượng hợp lí alkaloid có thể sử dụng để làm thuốc giảm ho, giảm đau,… Do đó, việc nghiên cứu về phân tích và tách chiết alkaloid đang là một vấn đề khá mới mẻ và quan trọng cho đời sống ngày nay.


M_tả

Nghiên cứu đặc điểm thực vật và thành phần hóa học của cây rau đắng đất


Tài liệu này do thành viên có TK Facebook (Thiện Đại) sưu tầm và đóng góp cho thư viện. Thay mặt BQT EBOOKBKMT mình xin chân thành cảm ơn bạn rất nhiều :)

Mọi đóng góp cho thư viện, các bạn hoàn toàn có thể gửi trực tiếp về email của Admin nguyenphihung1009@gmail.com hoặc inbox qua Facebook https://www.facebook.com/Congdongkythuatcodienvietnam.VMTC/.


M_tả

Nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị cho tôm an theo nhu cầu phục vụ mô hình nuôi tôm thương phẩm


Theo [22], Thức ăn là nguồn chi phí chính trong hoạt động nuôi trồng thủy sản, chiếm khoảng 60% tổng chi phí nuôi. Nó ảnh hưởng đến năng suất và sản lượng tôm nuôi. Cho ăn đầy đủ số lượng và chất lượng, tôm khỏe mạnh, lớn nhanh, không gây ô nhiễm môi trường, hiệu qu ả kinh tế cao. Thiếu thức ăn, tôm chậm phát triển, còi cọc, kích cỡ không đều dễ cảm nhiễm bệnh. Thừa thức ăn, ao nuôi mau dơ bẩn gây ô nhiễm, tảo và một số vi sinh vật phát triển quá mức làm ảnh hưởng tới môi
trường ao nuôi, dễ gây ra hiện tượng nở hoa, thiếu ôxy cục bộ về ban đêm dẫn đến tôm chết hàng loạt.


M_tả

NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ, CHẾ TẠO THIẾT BỊ CHO TÔM ĂN THEO NHU CẦU PHỤC VỤ MÔ HÌNH NUÔI TÔM THƯƠNG PHẨM THÂM CANH QUI MÔ TRANG TRẠI


Tôm càng xanh là loại ăn tạp nhưng chủ yếu là động vật. Khi kiểm tra dạ dày, thức ăn gồm có: nguyên sinh vật, giun nhiều tơ, giáp xác, côn trùng, nhuyễn thể, các mảnh cá vụn, các loài tảo và mùn bã hữu cơ, cá mịn. Tôm càng xanh thường bắt mồi vào chiều tối và sáng sớm. Tôm thường bò trên mặt đáy ao, dùng càng nhỏ đưa mồi vào miệng. Đặc tính của tôm càng xanh là nếu không đủ thức ăn, chúng hay ăn thịt lẫn nhau khi lột xác. Do đó trong nuôi tôm thương phẩm, phải dùng các biện pháp kỹ thuật để hạn chế sự ăn thịt lẫn nhau của tôm.


M_tả

Kỹ thuật canh tác cây sầu riêng tại huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre


Đồng bằng sông Cửu Long là một trong nơi có khí hậu và địa hình thuận lợi cho sự phát triển trồng trọt. Trong đó việc phát triển vườn cây ăn trái rất được quan tâm để có thể tận dụng tốt và tối đa những ngồn lợi mà thiên nhiên ưu đãi. Có rất nhiều loại cây ăn trái được các nhà vườn nơi đây chọn lựa để sản xuất như trong đó đặc biệt là cây sầu riêng rất được  bà con quan tâm.loại cây này cho ra loại trái không chỉ vừa thơm vừa ngọt mà còn có một vị béo rất đặt trưng mà không phải loại trái nào cũng có được, ai đã từng thử qua một lần thì khó mà quên được mùi vị của trái. Và giá cả của trái luôn giữ được ở mức ổn định và thường cao hơn nhiều loại trái khác.


M_tả

Các yếu tố liên quan tới sự này mầm của hạt


Giống cây trồng nói chung và hạt giống nói riêng, là một điều kiện không thể thiếu trong trồng trọt. Chính vì vậy mà người nông dân rất quan tâm đến chất lượng hạt giống. Ngoài việc tìm phương pháp phơi sấy và bảo quản hạt giống, các yếu tố chính ảnh hưởng đến chất lượng hạt giống như: phân bón, thời gian sinh trưởng, thời gian thu hoạch, trọng lượng hạt, tỉ lệ nảy mầm của hạt và thời gian tồn trữ sau thu hoạch.


M_tả

Quy trình sản xuất Biodiesel từ Vi tảo


Trên thực tế, để có thể dùng làm biodiesel, các loại dầu và mỡ phải được tinh chế thành methyl hoặc ethyl ester. Ở Mỹ, dầu nành là nguyên liệu phổ biến nhất để tinh chế methyl ester, trong khi ở châu Âu và Canađa, người ta lại hay dùng hạt cải dầu (Canola) để sản xuất biodiesel. Trong quá trình chuyển hóa nhiều loại dầu được chuyển hóa thành methyl ester nhờ phản ứng hóa học với methanol (có các chất xúc tác như Na (natri) hay KOH (potassium hydroxide).


M_tả

Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ của bệnh newcastle và thực trạng sử dụng vacxin phòng bệnh ở các đàn gà nuôi tập trung trên địa bàn huyện phú lương, tỉnh thái nguyên


a. Tính gây bệnh

- Trong tự nhiên:

Virus Newcastle có thể gây bệnh cho gà mọi giống, mọi lứa tuổi. Ngoài ra chúng còn gây bệnh cho các loài gà tây, bồ câu, chim sẻ, chim cút, sáo, vẹt. Bệnh không thấy ở thủy cầm như ngan, vịt, ngỗng nhưng chúng lại mang mầm bệnh ñể rồi lây lan sang gà và hoang cầm (Lê Văn Năm, 2004). Người có thể bị nhiễm virus Newcasctle, thời gian nung bệnh 1- 4 ngày, dấu hiệu rõ nhất là viêm kết mạc mắt, sốt và nhức ñầu (Nguyễn Vĩnh Phước và cs, 1978; Nguyễn Như Thanh và cs, 2001).


M_tả

Điều tra đặc điểm dịch tễ học của bênh newcastle tại xã cổ bi huyện gia lâm


Trong chăn nuôi vấn đề dịch bệnh luôn được quan tâm hàng đầu.
Dịch bệnh là vấn đề quyết định sự thành công hay thất bại trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi theo hình thức công nghiệp và bán công nghiệp.
  Trong những năm gần đây có nhiều bệnh gây thiệt hại cho chăn nuôi gia cầm như cúm, newcastle,CRD….,  để hạn chế được dịch bệnh cần có những nghiên cứu sâu rộng về đặc điểm của dịch bênh như cách phòng chống. đồng thời phải có sự phối hợp giải quyết nhiều khâu từ những người chăn nuôi đến những người làm công tác thú y……. mở rộng các chương trình phòng chống dịch và phát triển hệ thống theo dõi, báo cáo về dịch bệnh.
  Cùng với sự phát triển của chăn nuôi nguy cơ xảy ra dịch bệnh trên ngày càng nhiều trong đó newcastle là bệnh truyền nhiễm cấp tính và lây lan rất nhanh,bệnh gây xáo trộn và bệnh tích trên đường hô hấp,tiêu hóa và thần kinh. Hiện nay bệnh là mói nguy hiểm cho ngành chăn nuôi gia cầm, bệnh thường gây nhiễm ghép với các bệnh khác và tỷ lệ chết là 100% => gây thiệt hại kinh tế lớn trong chăn nuôi.


M_tả

Điều tra tình hình dịch bệnh trên gà nuôi trong các nông hộ thuộc xã chiềng sung, mai sơn, sơn la


Thực tế đã chứng minh, vấn đề phòng chống dịch bệnh là một trong những yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của chăn nuôi gà. Song song với sự phát triển của đàn gà thì bệnh trên gà cũng phát triển mạnh mẽ và phức tạp làm ảnh hưởng không nhỏ đến hậu quả kinh tế của các cơ sở chăn nuôi tập trung cũng như các hộ gia đình.


M_tả

Đặc điểm dịch tễ và sự lưu hành virus newcastle ở gà tại một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vĩnh phúc


Bệnh Newcastle được cho rằng xảy ra vụ dịch đầu tiên vào năm 1926 ở quần đảo Java (Indonesia) và ở Newcastle-upon-tyne (Anh). Tuy nhiên đã có nhiều báo cáo cho thấy bệnh tương tự đã xảy ra ở Trung Âu từ trước năm 1926; theo trích dẫn của Levine (1964), Ochi và Hashimoto đã phát hiện được bệnh ở Hàn Quốc vào năm 1924; Macpherson (1956) lại cho rằng nguyên nhân gây chết của gà tại các hòn đảo phía Tây Scotland vào năm 1896 là do bệnh Newcastle. Căn bệnh này sau đó được phát hiện ở Hoa Kỳ vào năm 1944. Ngày nay thì căn bệnh Newcastle đã có ảnh hưởng và lây lan ra toàn cầu, vùng bị nặng nhất là Đông Nam Á (có Việt Nam trong này) và các nước vùng Trung Mỹ. Tỉ lệ tử vong cao từ 95 đến 100% cho gia cầm bị căn bệnh này. Năm 1927, Doyle đã phân lập được mầm bệnh trong ổ dịch của gà tại Newcastle (Anh) và chứng minh virus phân lập có tính kháng nguyên khác với bệnh Cúm gà.


M_tả

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH HACCP CHO QUY TRÌNH SẢN XUẤT NƯỚC SÁ XỊ CHƯƠNG DƯƠNG


1.1. Tổng quan về quản lý chất lượng thực phẩm
1.1.1. Một số khái niệm về chất lượng 
1.1.1.1. Thực phẩm
Thực phẩm là những sản phẩm dạng rắn hoặc lỏng mà con người dùng để ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản nhằm thỏa mãn nhu cầu, cung cấp dinh dưỡng, cung cấp năng lượng.
1.1.1.2. Chất lượng
Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể, tạo cho thực thể đó khả năng thỏa mãn các nhu cầu cụ thể hay còn tiềm ẩn của người tiêu dùng.
Chất lượng được đo bởi sự thỏa mãn nhu cầu. Nếu một sản phẩm vì lý do nào đó mà không được nhu cầu chấp nhận thì phải bị coi là có chất lượng kém, cho dù trình độ công nghệ để chế tạo ra sản phẩm đó có thể rất hiện đại. Đây là một kết luận then chốt và là cơ sở để các nhà chất lượng định ra chính sách, chiến lược kinh doanh của mình.


M_tả

LUẬN VĂN - Nghiên cứu quy trình sản xuất bột chùm ngây để sản xuất thực phẩm dinh dưỡng


Hiện nay, cây Chùmngây đang được chú ý quan tâm ở rất nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Cây Chùmngây là một trong 13 loài thuộc chi Moringa, họ Moringaceae, với tên khoa học là Moringa oleifera Lam, đây là cây đa tác dụng được trồng ở nhiều nơi trên thế giới nhất là các vùng đang phát triển ở vùng châu Á và châu Phi, nó được xem là tài nguyên vô giá, chống nạn thiếu dinh dưỡng, bảo vệ sức khỏe cộng đồng và phòng hộ giảm nhẹ thiên tai. Ngoài khả năng cung cấp chất dinh dưỡng, các bộ phận của cây Chùmngây còn có dược tính phổ rộng, được dùng để điều trị nhiều bệnh khác nhau. Qua các nghiên cứu khoa học cho thấy cây Chùmngây chứa nhiều vitamin và muối khoáng có ích, với hàm lượng rất cao: vitamin C cao gấp 7 lần trong Cam, provitamin A cao gấp 4 lần trong Cà-rốt, Canxi cao gấp 4 lần trong sữa, Potassium cao gấp 3 lần trong Chuối, Sắt cao gấp 3 lần trong rau Diếp, và ngay cả Protein cũng cao gấp 2 lần trong sữa. Ngoài ra, nó còn chứa nhiều vitamin B, các acid amin có lưu huỳnh như methionin, cystein và nhiều acid amin cần thiết khác. Do vậy, Chùmngây được xem là một trong những nguồn thực vật có giá trị dinh dưỡng rất cao.


M_tả

D. Luận văn chuyên ngành Nông lâm nghiệp (Agriculture and Forestry)