Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn chuyên ngành Nông lâm nghiệp (Agriculture and Forestry). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn chuyên ngành Nông lâm nghiệp (Agriculture and Forestry). Hiển thị tất cả bài đăng

Thực trạng và giải pháp phát triển trang trại chăn nuôi heo trên địa bàn huyện Thống Nhất Đồng Nai

 


Chăn nuôi là một trong hai ngành sản xuất chính cuả nông nghiệp, nhưng trong thời gian dài chăn nuôi ở Việt Nam phát triển chậm, phân tán, trình độ thấp và chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Từ năm 2000 đến nay, chăn nuôi cả nước nói chung và nhiều địa phương nói riêng đã có biểu hiện khởi sắc và có vai trò tích cực trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Giá trị sản xuất (GTSX) ngành chăn nuôi tăng bình quân hàng năm trong giai đoạn 2001-2005 đạt khoảng 7,1% (gấp hơn 2 lần tốc độ phát triển ngành trồng trọt), sản phẩm chăn nuôi đã tham gia xuất khẩu, đã có nhiều trang trại chăn nuôi quy mô lớn và công nghệ khá hiện đại. Tuy nhiên, nhìn chung trình độ phát triển chăn nuôi của nước ta còn thấp hơn so với trình độ của khu vực ASEAN và thấp hơn rất nhiều so với các nước chăn nuôi tiên tiến. 


M_tả

Đánh giá hiện trạng và đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải chăn nuôi tại một số trang trại nuôi heo trên địa bàn huyện thống nhất,tỉnh đồng nai

 


Chăn nuôi heo là ngành kinh tế quan trọng, có vai trò cung cấp thực phẩm và góp phần tăng thu nhập, tạo công ăn việc làm  cho người dân. Bên cạnh đó, chăn nuôi heo cũng phát sinh một lượng chất thải rất lớn, nếu không có biện pháp xử  lý sẽ  gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và các sinh vật khác.


M_tả

Nghiên cứu sản xuất sản phẩm thủy phân từ đầu tôm bằng enzyme Flavourzyme và ứng dụng trong sản xuất nước chấm



Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của nhiều giáo viên của khoa chế biến cùng gia đình và bạn bè. Qua đây tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến những người đã giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu.

Tôi xin chân thành cảm ơn TS.Nguyễn Thị Mỹ Hương người đã trực tiếp hướng dẫn động viên và có những góp ý bổ ích cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài.

Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn tới cán bộ của phòng thí nghiệm công nghệ chế biến, phòng thí nghiệm hóa sinh và phòng công nghệ sinh học và môi trường đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình nghiên cứu.


M_tả

Một số giải pháp phát triển các trang trại chăn nuôi lợn trên địa bàn tỉnh đồng nai


Kinh tế trang trại là một hình thức sản xuất hàng hóa tập trung, qui mô lớn, có hiệu quả đã được hình thành tại nhiều quốc gia trên thế giới, cũng như tại Việt Nam.  Xu  thế  phát  triển  kinh  tế  trang  trại  là  một  tất  yếu  trong  sản  xuất  nông nghiệp  theo  hướng  hàng hóa trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế  Thế giới  của Việt Nam. Kinh tế trang trại cung cấp cho thị trường hàng hóa với số lượng lớn, chất lượng đồng nhất, có sức cạnh tranh cao và là chìa khóa cho phát triển nông nghiệp.


M_tả

Đánh giá ảnh hưởng của các trang trại chăn nuôi lợn đến chất lượng nước tại địa bàn xã Phú Đông, Huyện Ba Vì, Thành phố Hà Nội


Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững là một trong những định hướng chiến lược trong phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. 

Ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đang phát triển với tốc độ rất nhanh. Theo thống kê năm 2012 có tới 8133 trang trại chăn nuôi, tăng thêm 1866 trang trại so với năm 2011 (Tổng cục thống kê, 2013) nhưng chủ yếu là tự phát và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi. Do đó năng suất chăn nuôi thấp và gây ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng. Tuy nhiên chăn nuôi lại đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước, chiếm 26,8% trong tổng giá trị của sản xuất nông nghiệp vào tổng thu nhập quốc nội (Tổng cục thống kê, 2013).


M_tả

Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm phân bón vi sinh vật đa chủng, phân bón chức năng phục vụ chăm sóc cây trồng cho một số vùng sinh thái


Dựán SXTN: Nghiên cứu sản xuất thử nghiệm phân bón vi sinh đa chủng, đa chức năng ứng dụng cho cây trồng qui mô công nghiệp; mã số KC.04.DA11 thuộc chương trình “Nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệsinh học KC.04” được đặt ra với mục đích: Hoàn thiện công nghệsản xuất phân bón vi sinh vật đa chủng, chức năng chất lượng cao ởqui mô công nghiệp cho một sốcây trồng trên vùng sinh thái và tổchức chuyển giao công nghệ, ứng dụng vào sản xuất nhằm tạo mô hình sản xuất và sửdụng hỗn hợp vi sinh vật nhiều chức năng nhưmột loại phân bón có tác dụng nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, tiết kiệm phân hoá học, đồng thời có khảnăng hạn chếmột sốbệnh vùng rễcây trồng do nấm và vi khuẩn gây nên, góp phần phát triển nông phẩm an toàn.


M_tả

Ứng dụng phần mềm Microstation và Famis trong việc thành lập bản đồ địa chính tờ bản đồ số một của xã Phú hiệp, huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp, 2012


Hiện nay, đất đai có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia. Đất đai vừa là công cụ và vừa là tư liệu sản xuất  trong các lĩnh vực nông nghiệp – ngư nghiệp – lâm nghiệp, ngoài ra đất đai còn có ích trong công nghiệp và các lĩnh vực kinh tế khác. Từ đó, đất đai đã trỡ thành một tài nguyên rất quan trọng.


M_tả

Nghiên cứu trích ly polyphenol từ lá sakê và ứng dụng tạo sản phẩm đồ uống giàu polyphenol


Từ lâu nay, vấn đề dinh dưỡng và sức khoẻ luôn là mối quan tâm của con người. Theo xu hướng của cuộc sống ngày nay, người ta có ít thời gian để chăm sóc cho sức khoẻ, đồng thời các căn bệnh thời đại cũng có chiều hướng gia tăng… Do đó việc bổ sung thêm các thành phần dinh dưỡng, dược liệu cần thiết vào thực phẩm là cần thiết nhằm bổ sung và hỗ trợ cơ thể.


M_tả

Quy trình công nghệ sản xuất bột ca cao


- Ca cao có nguồn gốc đầu tiên là ở rừng Amazon, là thực vật mọc ở tầng dưới và được xem là thức ăn của thần thánh. Vào 3000- 4000 năm trước ở Mexico 1 tên nô lệ giỏi được đổi bằng 100 trái cacao…
- Việt Nam trồng ca cao đầu tiên là ở Quãng Ngãi, nhưng tính đến năm 2004 DakLak là nơi có diện tích trồng ca cao lớn nhất nước (990ha). Do cây ca cao không chịu nắng nên mô hình trồng ca cao thường xen kẽ với các cây ngắn ngày, dài ngày khác để che nắng.


M_tả

GIÁO TRÌNH - Kỹ thuật nuôi cá cảnh


Ngoài hình thức thưởng thức vẻ đẹp của cá, các nghệ nhân còn vận dụng tính hiếu chiến của một số loài cá để chọi với nhau như: cá xiêm, cá lia thia và cá đuôi cờ nhưng cá lia thia là được ưa chuộng hơn cả.

Vào khoảng 1850, cá chọi rất phổ biến ở Thái lan. Người dân chọi cá trong các ngày hội, đình đám, các cuộc thi đấu thể thao. Từ 1927, cá chọi được nhập cảng vào nhiều nước Châu Âu và từ đó nó cũng đã hấp dẫn nhiều người chơi cá ở các độ tuổi khác nhau như ở nhiều nước Đông Nam Á.


M_tả

Nghiên cứu công nghệ và thiết bị chế biến thịt quả điều


NỘI DUNG:

1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước và trong nước .15

1.1. Ngoài nước.15

1.2. Trong nước.18

2. Vật liệu và phương pháp nghiên cứu .24

2.1. Vật liệu .24

2.2. Cách tiếp cận.24

2.3. Phương pháp nghiên cứu và kỹthuật đã sử dụng.25



M_tả

Nghiên cứu hệ Protease trùn quế (Perionyx excavatus) trong quá trình tự phân và khả năng ứng dụng


Hiện nay các tỉnh phía Nam và đồng bằng sông Cửu Long đã bắt đầu nuôi trùn quế với quy mô lớn, nguồn thức ăn chủ yếu lấy từ phân bò, ữâu [48]. Một số nghiên cứu sử dụng trùn đất làm thức ăn bổ sung cho gà góp phần nâng cao hiệu suất nuôi gà thả vuờn cho các hộ nông dân [2], hoặc sử dụng trùn quế để sản xuất chế phẩm sinh học dùng trong nông nghiệp[14]. Ngoài ra, nông dân các tỉnh miền Tây sử dụng thêm nguồn thức ăn trục tiếp từ trùn quế giàu đạm để bổ sung thêm khẩu phần dinh duỡng cho các loại tôm cá vừa qua giai đoạn ấu trùng, hoặc khôi phục sức khỏe vật nuôi sau dịch bệnh.


M_tả

Cải tạo đất phèn phục vụ phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long


Trái đất chúng ta từ lúc được hình thành đã tạo  ra một lớp địa hình đa dạng và phức tạp, là tài nguyên quý giá hết sức quan trọng trong việc cung cấp lương thực cho con người và cả động thực vật. Diện tích đất canh tác nông nghiệp trên trái đất là rất lớn nhưng không phải là vô tận, song song đó cũng đã hình thành một nhóm đất không thể canh tác được nếu không được cải thiện bằng những biện pháp khoa học, diện tích đất này chiếm một số lượng không nhỏ trong tài nguyên đất của chúng ta.


M_tả

Nghiên cứu nhân giống cây bưởi diễn (Citrus Grandis L.) bằng kỹ thuật nuôi cấu in vitro (Luận văn thạc sĩ)


Cây Bưởi (Citrus grandis L.) là một trong những loại cây ăn quả thương mại chủ lực, có lịch sử phát triển lâu đời ở nước ta. Do có phổ thích nghi rộng nên được trồng trên khắp các vùng sinh thái của cả nước từ Bắc vào Nam tạo nên những vùng quả đặc sản nổi tiếng như: Bưởi Đoan Hùng (Phú Thọ), bưởi Diễn (Từ Liêm, Hà Nội), bưởi Phúc Trạch (Hà Tĩnh), bưởi Da Xanh (Bến Tre), bưởi Đỏ (Thanh Hóa), bưởi Năm Roi,…. Mỗi loại bưởi có hương vị đặc trưng riêng. Diện tích và sản lượng cây bưởi tăng không chỉ tạo cảnh quan đẹp, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, nâng cao hiệu quả kinh tế cho nông hộ mà còn đáp ứng nhu cầu xuất khẩu, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn. Nhiều nhà vườn trồng bưởi sau 4 - 5 năm có thể thu lãi 40 - 100 triệu đồng/ha, năng suất cao tới 250 quả/cây ở vườn có mật độ khoảng 1000 - 1200 cây/ha [8].


M_tả

ĐỒ ÁN - SẢN PHẨM TRÀ TÚI LỌC ATISO KHỔ QUA


Atisô (tên khoa học: Cynara scolymus) là loại cây lá gai lâu năm, có nguồn gốc từ miền Nam Châu Âu ( quanh Địa Trung Hải). Ở Việt Nam, Atisô đã được trồng hàng trăm năm nay tại những vùng có khí hậu ôn đới như Đà Lạt (Lâm Đồng), Sapa (Lào Cai), Tam Đảo (Vĩnh Phúc). Đến nay Atisô được phát triển trồng ở nhiều nơi, kể cả vùng đồng bằng như Hải Dương cây vẫn phát triển tốt.
Atisô có thể cao tới 1.5-2m, lá cây dài từ 50-80cm. Thân ngắn, thẳng và cứng, có khía dọc, có lông trắng như bông. Lá to, dài, mọc so le; phiến lá sẻ thùy sâu và có răng không đều, mặt trên xanh lục, mặt dưới có lông trắng, cuống lá to và ngắn. Cụm hoa hình đầu, to, mọc ở ngọn. màu đỏ tím hoặc tím lơ nhạt.


M_tả

ĐỀ tài NÔNG NGHIỆP SINH THÁI


Nông nghiệp hữu cơ là hệ thống quản lý sản xuất toàn diện mà được hỗ trợ, tăng cường gìn giữ bền vững hệ sinh thái, bao gồm các vòng tuần hoàn và chu kỳ sinh học trong đất. Nông nghiệp hữu cơ dựa trên cơ sở sử dụng tối thiểu các đầu tư từ bên ngoài nhằm làm giảm ô nhiễm từ không khí, đất và nước, chống sử dụng các chất tổng hợp như phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu hoá học.


M_tả

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn huyện tiên du – tỉnh bắc ninh


- Đánh giá được điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Tiên Du. Qua nghiên cứu cho thấy Tiên Du được thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên thiên nhiên, điều kiện khí hậu, thủy văn, vị trí địa lý, con người của thành phố thuận lợi cho phát triển kinh tế xã hội toàn diện. Tổng diện tích đất tự nhiên là 9.560,26 ha, diện tích đất
nông nghiệp là 5.605,98 ha, chiếm 58,64% tổng diện tích tự nhiên. Trong nhóm đất nông nghiệp, đất trồng lúa 4.538,58 ha, chiếm 47,03% tổng diện tích đất tự nhiên, đất trồng cây lâu năm 27,42 ha chiếm 0,28% tổng diện tích tự nhiên, đất lâm nghiệp 184,64 ha chiếm tổng 1,93% diện tích tự nhiên , đất nuôi trồng thuỷ sản 343,56 ha chiếm 3,59%.


M_tả

LUẬN VĂN - Thiết kế nhà chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm với năng suất 50 tấn sản phẩm trên ngày


Cùng với sự khuyến khích của nhà nước, ngành chăn nuôi và trồng trọt trong tương lai sẽ phát triển mạnh với quy mô lớn theo hướng hiện đại. Trong sự phát triển đó thì vai trò của ngành công nghệ chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm là rất quan trọng, đây là một ngành không thể thiếu, tồn tại song song, hỗ trợ cho sự phát triển của ngành chăn nuôi nói riêng và góp phần phát triển kinh tế đất nước nói chung.
Trong thời gian vừa qua ngành chăn nuôi có nhiều biến động, chế biến thức ăn chăn nuôi gặp không ít khó khăn nhưng nó vẫn phát triển, đây là một điều đáng mừng. Với những kết quả mà ngành chế biến thức ăn chăn nuôi mang lại tác giã đã chọn đề tài: “Thiết kế nhà chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm với năng suất 50 tấn sản phẩm/ngày”. Với mục đích sử dụng dây chuyền công nghệ hiện đại tạo ra lượng thức ăn chăn nuôi chất lượng cao sẽ đáp ứng được nhu cầu thức ăn chăn nuôi, tạo công việc làm cho người lao động, nâng cao năng suất, hiệu quả trong chăn nuôi.


M_tả

Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học và thử nghiệm ương nuôi ấu trùng Phyllosoma tôm hùm bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) giai đoạn I và II tro


Tôm hùm là một đối tượng nuôi có giá trị kinh tế. Từ năm 1992 nghề nuôi tôm hùm ở Việt Nam đã bắt đầu phát triển. Số lượng lồng nuôi tôm hùm đã tăng từ khoảng 500 lồng (1994) lên đến 55.000 lồng (2006). Sản lượng tôm hùm nuôi cũng tăng rất nhanh, từ 25 tấn (1994) lên 2300 tấn (2004), sau đó ổn định khoảng 2000 tấn/năm. Nghề nuôi tôm hùm bằng lồng trên biển đã thực sự góp phần thay đổi đờisống kinh tế -xã hội của các cộng đồng ngư dân ven biển. Đồng thời Việt Nam đã  trở thành quốc gia đứng đầu thế giới về sản lượng tôm hùm nuôi với kim ngạch xuất khẩu khoảng 100 triệu đô la Mỹ hàng năm[1].


M_tả

Thử nghiệm nuôi tôm hùm bông (panulirus ornatus fabricius, 1798) trong hệ thống bể tuần hoàn


Tôm hùm bông (Panulirus ornatus Fabricius, 1798) là loài hải đặc sản có chất lượng dinh dưỡng và giá trị kinh tế cao, ngày càng được quan tâm phát triển trong nuôi trồng thủy sản tại nhiều quốc gia. Tại Việt Nam, nghề nuôi tôm hùm hiện đang phát triển mạnh mẽ, tập trung tại các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ, từ Bình Định đến Bình Thuận, với hình thức chính là nuôi lồng bè trên biển. Theo Tổng cục Thủy sản (4/2017), sản lượng tôm hùm nuôi trung bình hàng năm trong 5 năm qua dao động từ 1.200 - 1.500 tấn/năm, năm 2016 sản lượng đạt hơn 1.300 tấn, với số lượng lồng nuôi thương phẩm hiện nay đạt hơn 58.000 lồng.


M_tả

D. Luận văn chuyên ngành Nông lâm nghiệp (Agriculture and Forestry)