Showing posts with label D. Luận văn chuyên ngành Lịch sử - Văn Hóa (History & Cultural). Show all posts
Showing posts with label D. Luận văn chuyên ngành Lịch sử - Văn Hóa (History & Cultural). Show all posts

TIỂU LUẬN - Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên


Nhằm tìm hiểu về những di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam nói chung và của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, chúng em đã chọn đề tài “cồng chiêng Tây Nguyên” để nghiên cứu. Mục đích tiếp theo là để tiếp thu những tinh hoa, những cái hay trong âm nhạc cồng chiêng của người Tây Nguyên đến mức độ nào mà UNESCO phải công nhận là 1 di sản văn hóa – chỉ ở cồng chiêng Tây Nguyên (Dù ở ĐNÁ có rất nhiều nước có cồng chiêng nhưng chỉ riêng cồng chiêng Tây Nguyên là được công
nhận).


M_tả

Nội dung và nghệ thuật truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm


Trong nghiên cứu, tập Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm được chú ý từ khá sớm. Chúng tôi có thể kể ra một số công trình cơ bản đề cập tới nội dung và nghệ thuật của tập truyện để lấy đó làm cơ sở cho quá trình tìm hiểu văn bản. Trước hết, chúng tôi tìm hiểu cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, của nhóm nghiên cứu Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận. Các nhà nghiên cứu đã dành một số dòng ngắn gọn để giới thiệu về Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả. Công trình này xác nhận: “Tác phẩm chính viết bằng chữ Hán còn để lại, là tập Truyền kỳ tân phả.


M_tả

Luận văn truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm từ góc nhìn thi pháp tự sự


Văn học trung đại Việt Nam là một di sản văn hóa tinh thần to lớn, có ý nghĩa nền tảng cho sự xây dựng và phát triển văn hóa hiện đại của dân tộc. Chúng ta đang kế thừa một di sản thi ca đồ sộ và phong phú với truyền thống nghệ thuật trữ tình mạnh mẽ hom truyền thống tự sự. Quan niệm mỹ học “văn dĩ tải đạo” và quan niệm “thi ngôn chí” đã níu kéo và giới hạn các nhà nho Việt Nam chậm đến với các thể loại văn xuôi tự sự. Tuy vậy, thế kỷ XIV chúng ta đã có Việt điện u lỉnh, cuối thế kỷ XV đã có Lĩnh nam chích quái, rồi làn lượt tới Thiền uyển tập anh, Truyền kỳ mạn lục, Thánh tông di thảo, Hoàng Lê nhất thống chỉ.. .bên cạnh các truyện nôm khuyết danh. Như vậy, ở mỗi thể loại, qua các thời kỳ phát triển văn học trung đại Việt Nam luôn gắn với sự xuất hiện của các tác giả và tác phẩm xuất sắc. Tác phẩm Truyền kỳ tân phả (còn có tên gọi ỉầ“Tục truyền kỳ”) của Đoàn Thị Điểm viết bằng chữ Hán là truyện kể về cuộc đời, thời thế, con người, tuy xuất hiện sau Truyền kỳ mạn lục gàn hai thế kỷ nhưng vẫn như một viên ngọc quý trong kho tàng văn chương tự sự Việt Nam. Gắn liền với âm hưởng trữ tình của tác phẩm đồng tác giả Chinh phụ ngâm, “Truyền kỳ tân phả đã trở thành thứ vật dẫn biểu hiện cho việc đề cao nữ quyền”, [79].


M_tả

Văn bản truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần tích


Dựa trên cơ sở tư liệu là các văn bản Hán Nôm hiện đang được lưu trữ trong thư viện Viên Nghiên cứu Hán Nôm, Luận văn đi sâu nghiên cứu về văn bản tác phẩm Truyền kì tân phả, sau đó tìm hiểu về mối quan hệ giữa Truyền kì tân phả và các thần tích hữu quan. Cụ thể là các văn bản thần tích có liên quan tới hai truyện Hải khẩu linh từ và Vân Cát thần nữ trong Truyền kì tân phả, qua đây có thể góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về hình tượng nàng cung phi Bích Châu và Thánh mẫu Liễu Hạnh.


M_tả

SKKN dạy học TRÍCH đoạn UY LIT xơ TRỞ về THEO đặc TRƯNG THỂ LOẠI


1.1. Như chúng ta biết, tất cả các tác phẩm văn học đều mang những đặc điểm chung của thể loại, của loại hình văn học. Việc dạy, học tác phẩm văn học từ góc nhìn thể loại đã được nói đến từ lâu nhưng trong thực tế nguyên tắc này dường như đang bị
bỏ qua, đặc biệt là giảng dạy các trích đoạn sử thi văn học nước ngoài trong chương trình THPT.
1.2. So với phần văn học Việt Nam, phần văn học nước ngoài trong chương trình THPT có những ưu thế và khó khăn riêng cho người dạy, người học. Vì thế việc tìm kiếm một phương pháp dạy tối ưu luôn đặt ra cho mỗi người giáo viên dạy văn nhất là
khi dạy các trích đoạn thuộc thể loại sử thi.


M_tả

Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ


Hình thành từ thuở sơ khai, tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin và sự ngưỡng vọng của loài người vào những cái "siêu nhiên", "cái thiêng", đối lập với “cái trần tục”. Tín ngưỡng ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu giải thích thế giới theo tư duy của loài người ở những trình độ nhất định mà còn để an ủi bản thân, gửi gắm những ước vọng mà họ chưa thực hiện được, từ đó giúp con người sống nhân văn hơn. Trải qua hàng triệu năm, tín ngưỡng đã tồn tại, phát triển cùng với loài người và chính là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh đa dạng, phức tạp…Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn: niềm tin vào Đức Chúa Trời của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần, ma quỷ của tín ngưỡng dân gian... Hình thức tôn giáo, tín ngưỡng này dù có nội hàm rộng hẹp khác nhau, phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc thì đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào “cái thiêng” chung của con người. Nếu như tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành nhất định với giáo lý, giáo hội, giáo đường lớp lang thì tín ngưỡng dân gian lại phản ánh những ước nguyện tâm linh của cộng động một cách tự nhiên, tự phát, thông qua những phong tục, tập quán truyền thống.


M_tả

TÀI LIỆU - Văn học 1900 - 1945


Phan Bội Châu trước đó tên là Phan Văn San, sau vì trùng tên với Vua Duy Tân (Vĩnh San) mới đổi thành Phan Bội Châu (Bội : đeo; Châu : Ngọc Châu). Phan Bội Châu có biệt hiệu là Sào Nam (lấy từ câu Việt Ðiểu Sào Nam Chi"), tỏ ý luôn thiết tha với quê hương đất nước. Ông còn có một tên hiệu khác là Thị Hán, ngụ ý là hảo hán, một đấng nam nhi lỗi lạc ở đời. Khi viết bài "Pháp Việt đề huề chính kiến thủ" ông lại ký tên là Ðộc Tỉnh Tử.


M_tả

TỔNG HỢP NHỮNG BÀI VĂN “CHỨNG MINH NHẬN ĐỊNH VỀ TÁC PHẨM CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ CỦA NGUYỄN TUÂN”


Đề số 1: Người ta thường nói Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ bậc thầy. Anh (chị) hãy nêu lên và phân tích một vài yếu tố nghệ thuật trong truyện Chữ người tử tù để chứng minh nhận định trên.

Chữ người tử tù là một tác phẩm xuất sắc nhất trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Đây là câu chuyện về một viên quản ngục mến mộ tài năng, nhất là tài viết chữ (chữ Hán) đẹp nổi tiếng của người tử tù. Ông ta đã tự hạ mình, đối đãi tử tế với người tù với mong ước xin được chữ quý. Tưởng đã hết hi vọng xin chữ nhưng cuối cùng ông ta lại được người tử tù cho chữ, kèm theo lời khuyên hãy bỏ nghề coi ngục, về quê sổng thanh bạch để xứng với thú chơi chữ đẹp. Thông qua câu chuyện ấy, đặc biệt là cảnh cho chữ, tác giả muốn nêu lên vẻ đẹp hiên ngang của người tử tù và quá trình đi tìm Cái Đẹp của viên quản ngục. Từ đó, nhà văn khẳng định sự chiến thắng của Cái Đẹp, đẹp chữ viết, đẹp đức cao, đẹp nhân cách trước những cái xấu xa, thấp hèn đầy rẫy trong cuộc đời.

M_tả

Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng


1.1. Nghiên cứu thơ Huy Cận tức là nghiên cứu một trong những gương mặt thơ lớn của thời đại, một trong những nhà văn hóa có đóng góp đáng kể cho sự nghiệp văn học, văn hóa dân tộc Việt Nam thế kỷ XX.
Trên thi đàn Việt Nam vào những năm 1930-1945, từ phong trào Thơ mới đã xuất hiện những tài năng thơ, trong đó có Huy Cận, Xuân Diệu… Nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua quyển Thi nhân Việt Nam đã nhận xét bước đầu về phong cách của các nhà thơ trẻ: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [128, tr. 37]


M_tả

Tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (từ góc độ thể loại)


Đất nước chuyển biến mạnh mẽ trên con đường đổi mới, nhất là từ 1986. Đảng chủ trương mở cửa, hội nhập với cộng đồng Quốc tế, nhanh chóng đưa đất nước ra khỏi nguy cơ tụt hậu, đưa nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong đổi mới toàn diện của đất nước, những đứa con xa đã trở về, trở về bằng cả con người và bằng cả những giá trị tinh thần.


M_tả

Sự vận động quan niệm về con người của nguyễn minh châu từ cửa sông đến cỏ lau


Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy con người là đối tượng chủ yếu, "dù miêu tả theo hình thức nào, thần linh, ma quỷ, miêu tả đồ vật hoặc đơn giản là miêu tả các con vật văn học đều thể hiện con người" [37; tr.43].
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm trung tâm của thi pháp học có nội hàm phong phú và phức tạp. Khái niệm con người được nhiều ngành khoa học như: sinh học, tâm lí học, xã hội học, triết học, văn học... quan tâm nghiên cứu. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu một khía cạnh khác nhau và vấn đề con người đã trở thành tâm điểm chú ý của văn học ở tất cả
các khâu, từ những chuyện bếp núc của sáng tác đến khi tiếp nhận tác phẩm ở phía người đọc. Tìm hiểu vấn đề này cũng là khám phá một phương diện quan trọng trong thế giới nghệ thuật của nhà văn.


M_tả

Đặc điểm truyện ngắn nguyễn minh châu trước 1975


Nền văn học Việt Nam hiện đại đã được điểm nét son bằng chính cuộc đời và tác phẩm của những nhà văn chân chính, trong đó có nhà văn Nguyễn Minh Châu. Có lúc sáng tác của ông đã trở thành “một hiện tượng văn học”, thu hút sự quan tâm của dư luận. Văn chương của Nguyễn Minh Châu gắn bó chặt chẽ với những bước đi cơ bản của nền văn học dân tộc trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và những năm tháng sau chiến tranh.
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn tài năng, luôn đi tìm cái đích của chân, thiện, mỹ, tìm tòi khám phá cho ra lẽ sống của nghiệp văn chương. Ông yêu cầu rất cao về thiên chức người nghệ sĩ, cốt lõi là phải có cái tâm. Ngay từ bắt đầu cầm bút tới lúc hấp hối trên giường bệnh, Nguyễn Minh Châu luôn có trách nhiệm đối với công việc của mình. Khi là nhà văn quân đội, ông rất nhạy cảm với yêu cầu của cuộc sống cách mạng và sau này, ông sớm nhận ra con đường tất yếu phải đi đến của một nền văn học và đã trở thành người lính dũng cảm, kiên trì đấu tranh cho sự nghiệp đổi mới văn học.


M_tả

Thành tựu và hạn chế trong xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ở Việt Nam thời gian qua


Văn hoá Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước do cộng đồng của dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình lịch sử, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn hóa thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Văn hóa đó trở thành nền tảng quan trọng tạo nên nguồn sức mạnh to lớn giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược, khắc phục mọi khó khăn, thử thách trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước.
   1.Khái niệm văn hóa, và nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc.
Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra bằng lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình, biểu hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định.
Văn hóa bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần:
   + Văn hóa vật chất là năng lực sáng tạo của con người được thể hiện và kết tinh trong sản phẩm vật chất.
   + Văn hóa tinh thần là tổng thể các tư tưởng, lý luận và giá trị được sáng tạo trong đời sống tinh thần và hoạt động tinh thần của con người.
Nói tới văn hóa là nói tới con người, nói tới việc phát huy những năng lực thuộc bản chất của con người nhằm hoàn thiện con người. Do đó, văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con người, trên mọi lĩnh vực hoạt động thực tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội.


M_tả

LUẬN VĂN - Cơ chế hình thành cái “tôi” chấn thương trong tiểu thuyết “Khởi sinh của cô độc” (Paul Auster)


1.1. Phạm trù cái “tôi” vốn luôn được xem xét trong không gian của thế giới riêng
 tư, một thế giới ẩn sâu chất chứa những nỗi niềm và cá tính khu biệt. Trong văn chương, cái “tôi”chính là cốt lõi của sự sáng tạo, là đáp số mà kẻ viết và người đọc đều muốn đi tìm. Tuy nhiên, nhà văn trên con đường tìm kiếm và xác lập chính mình cũng cần chấp nhận sự tạm lãng quên bản thân để đại diện cho những giá trị phổ quát và vững bền. Bởi thế, mặc dù thuộc sở hữu của riêng mỗi cá nhân, cái “tôi” vẫn luôn cất tiếng nói đại diện cho thời đại, cho nhân loại. Và đằng sau sự thể hiện, sự phô diễn cái “tôi” luôn là cả một thế giới bị bỏ ngỏ. Thế giới ấy bao gồm những yếu tố đã trở thành động lực, thành cơ sở để con người tự ý thức về mình trong mối dây liên hệ vô tận. Nghiên cứu cơ chế hình thành cái “tôi” chính là đi truy nguyên nguồn gốc, đi tìm nguyên cớ bản chất nhất để cái “tôi” trong tác phẩm được nảy sinh, được phát triển và hoàn thiện.
1.2. Cái “tôi” chấn thương là một trong những vấn đề nổi bật của văn chương hậu
hiện đại, là đề tài đang được giới nghiên cứu, phê bình quan tâm. Cũng như phạm trù cái “tôi”, cái “tôi” chấn thương tự mang trong mình nhiều nhân tố thúc đẩy, hình thành phức tạp. Cốt lõi của nó là sự tổng hòa nhiều phương diện liên quan như tâm lý, văn hóa, xã hội, văn chương. Đặc biệt, cái “tôi” chấn thương tìm thấy mình trong các hình thức văn chương của ký ức và tự thuật. Việc nghiên cứu cái “tôi” chấn thương trong các tác phẩm tự truyện vì thế cũng chính là con đường nhìn ra các giá trị lịch sử, văn hóa, văn chương cũng như các vấn đề của nhân loại, của thời đại.
1.3. Paul Auster ( 1947) là một đại diện nổi bật của văn chương hậu hiện đại Mỹ.
 Đồng thời, ông cũng thuộc thế hệ tiếp nối của dòng văn chương Do Thái – Mỹ (Jewish American literature). Sau nhiều năm làm công việc phê bình và dịch thuật, ông bắt đầu sự nghiệp viết văn bằng tiểu thuyết tự truyện đầu tay “Sự phát minh của cô độc” (The invention of solitude). Tác phẩm đã giúp Auster để lại một ấn tượng về một nhà văn pha trộn nhiều đặc điểm văn hóa thú vị. Đặc biệt, các yếu tố đời thường của ông được đưa vào làm chất liệu sáng tạo tác phẩm đã tạo nên một hướng tiếp cận tiểu thuyết đầy thú vị xuất phát từ những ảnh hưởng tâm lý, văn hóa, xã hội,... xung quanh nhà văn. Nghiên cứu tìm hiểu các yếu tố trong tác phẩm, trong đó có cái “tôi” - phạm trù tổng hợp những phẩm chất văn hóa, tính cách con người Paul Auster chính là một con đường khai thác, tìm hiểu tác phẩm một cách khá toàn diện.


M_tả

LUẬN VĂN - Vẫn đề chấn thương trong tiểu thuyết của philippe claudel


1.1 Văn học Pháp là bộ phận văn học nước ngoài có mối liên hệ lâu dài và sâu sắc với văn học Việt Nam, được minh chứng qua những đóng góp của nền văn học Pháp đối với những thành tựu của văn học Việt Nam hiện đại ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX. Trải qua một chặng dài du nhập, tiếp nhận và giao lưu, cho đến nay, văn học Pháp đã không còn xa lạ với bạn đọc Việt. Từ Gargăngchuya và Păngtagruyen của Rabelair thời kì Văn học Phục hưng đến Molière với các vở hài kịch nổi tiếng, Trường học làm vợ, Trưởng giả học làm sang, Lão hà tiện ở thế kỉ XVII. Đặc biệt, bộ tiểu thuyết Nhà thờ Đức Bà Pari và Những người khốn khổ của Victor Hugo, bộ Tấn trò đời của Honoré de Balzac đã im đậm dấu ấn trong lòng bạn đọc Việt. Bước sang thế kỷ XX, kịch phi lí của Samuel Beckett cũng như tiểu thuyết của Albert Camus cũng là những thành tựu lớn của văn học Pháp được bạn đọc Việt Nam đón nhận nồng nhiệt.


M_tả

LUẬN VĂN - Tự sự lịch sử trong tiểu thuyết sông côn mùa lũ của nguyễn mộng giác


Ngôn ngữ là ngôi nhà của hữu thể, ngôn ngữ mang tính chất kiến tạo, là sự kiến tạo hữu thể. Chúng ta không bao giờ chạm được vào hiện thực, chúng ta chỉ có thể tiếp cận hiện thực thông qua các văn bản. Với cách nhìn như vậy tiểu thuyết lịch sử được coi là văn bản của sự kiến tạo lịch sử. Tiểu thuyết lịch sử trong giai đoạn gần đây có sự phát triển nở rộ, thể tài này đã dành được sự quan tâm của đông đảo độc giả và các nhà nghiên cứu .Có thể kể ra đây các tác phẩm tiểu thuyết lịch sử như: Vằng vặc Sao Khuê (Hoàng Công Khanh), Đất trời,Gió lửa (Nam Dao), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Mảnh trăng Tô Lịch (Siêu Hải), Đô đốc Bùi Thị Xuân (Quỳnh Cư), Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh)…và không thể không nhắc đến Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác.


M_tả

DẠY HỌC BÀI TỪ NGÔN NGỮ CHUNG ĐẾN LỜI NÓI CÁ NHÂN TRONG SÁCH GIÁO KHOA NGỮ VĂN 11 THEO QUAN ĐIỂM TÍCH CỰC


1.1. Tích cực là một quan điểm giáo dục hiện đại mang tính thời sự
Luật Giáo dục công bố năm 2005, Điều 28.2 có ghi “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Đổi mới giáo dục đòi hỏi nhà trường không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức đã có mà còn phải hình thành, bồi dưỡng cho học sinh tính năng động, óc tư duy sáng tạo và kỹ năng thực hành.
Bởi vậy, dạy học theo quan điểm tích cực là nhằm đổi mới giáo dục, đáp ứng yêu cầu xã hội. Nhờ có quan điểm dạy học này, nền giáo dục sẽ có sự chuyển đổi từ dạy theo lối thuộc lòng những tri thức “uyên thâm”, “thông kim bác cổ”, hiểu biết “thiên kinh vạn quyển” sang dạy để hình thành năng lực chuyên môn, năng lực giải quyết vấn đề, đưa ra những quyết định sáng tạo, mang lại hiệu quả cao, thích ứng với đời sống xã hội.


M_tả

TIỂU LUẬN - Tìm hiểu về nhà sàn dân tộc thái


NỘI DUNG: 

Chương 1: Đôi điều về dân tộc Thái.
Chương 2: Kiến trúc độc đáo của nhà sàn dân tộc Thái Sơn La .
Chương 3: Nhà sàn dân tộc Thái thời hiện đại ở Sơn La.
Chương 4: Tín ngưỡng dân gian được thể hiện trong kiến trúc nhà sàn dân tộc Thái.
Chương 5: Giá trị vật chất tinh thần của nhà sàn người Thái.
Chương 6: Bài học.


M_tả

LUẬN VĂN - Khảo sát câu đặc biệt trong truyện ngắn việt nam sau 1975


1.1. Câu là đơn vị ngôn ngữ được nghiên cứu từ rất sớm, từ thời cổ đại. Cho đến nay, câu tiếng Việt đã được các nhà ngôn ngữ học quan tâm trên nhiều bình diện: từ bình diện ngữ pháp đến bình diện ngữ nghĩa cũng như bình diện ngữ dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu về “dạng đặc biệt” của nó trong sự hành chức ở các thể loại văn bản như văn bản nghệ thuật vẫn chưa được quan tâm nhiều. Có thể nói chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ giá trị câu đặc biệt trong tác phẩm văn học.
1.2. Nghiên cứu tác phẩm văn  học dưới góc độ ngôn ngữ là xu hướng  phổ biến hiện nay. Đi vào tìm hiểu tác phẩm chúng ta lĩnh hội được phong cách tác giả, tính thẩm mỹ, tính cá thể, dấu ấn cá tính sáng tạo của nhà văn thông qua phương tiện ngôn ngữ như: từ ngữ, câu, đoạn  văn và cách tổ chức các đơn vị ngôn ngữ. Hướng nghiên cứu này làm cho đối tượng nghiên cứu ngôn ngữ học ngày càng phong phú, đa dạng hơn.


M_tả

LUẬN VĂN - Chính sách ngoại giao của Triều Nguyễn đối với Pháp giai đoạn 1802 - 1884


Triều Nguyễn (1802 - 1945) là triều đại tồn tại lâu dài và ghi lại nhiều dấu ấn nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Vì thế, trong vấn đề nghiên cứu xã hội Việt Nam truyền thống cũng như cho đến nay, việc nghiên cứu sâu sắc và toàn diện các vấn đề lịch sử triều Nguyễn là một trong những nhiệm vụ trung tâm của giới sử học Việt Nam hiện nay nhằm góp phần vào công cuộc nhận thức lại và đánh giá chính xác hơn về triều đại này.


M_tả

D. Luận văn chuyên ngành Lịch sử - Văn Hóa (History & Cultural)