Showing posts with label D. Luận văn chuyên ngành Lịch sử - Văn Hóa (History & Cultural). Show all posts
Showing posts with label D. Luận văn chuyên ngành Lịch sử - Văn Hóa (History & Cultural). Show all posts

Tài liệu Cảm hứng thế sự - đời tư trong thơ tố hữu


Trong văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu có một vị trí bề thế, như một trong những cây bút đại thụ có khả năng đón gió thời đại và lặng lẽ tỏa bóng xuống cả một nền thơ. Ông đươc coi là người mở đường và là người dẫn đầu tiêu biểu của nền thơ ca cách mạng. Sau hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng và sáng tạo thơ ca Tố Hữu đã để lại một sự nghiệp chính trị danh giá, gắn liền với một sự nghiệp văn chương đầy đặn, trang trọng, có sức bền nghệ thuật lâu dài. Thơ ông đã bám rễ sâu vào cuộc sống, nhận được nhiều sự yêu mến của nhiều thế hệ độc giả.


M_tả

Cuộc đấu tranh sinh tồn của thế giới loài vật trong sáng tác jack london


CHƯƠNG 1: JACK LONDON VÀ VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH SINH TỒN

1.1. Khái niệm “Đấu tranh sinh tồn” và cảm hứng đấu tranh sinh tồn trong văn chương Hoa Kỳ: “Đấu tranh sinh tồn”  (Struggle for existence, Struggle for life) Là qui luật chung, phổ biến, chi phối sự sống và là động lực thúc đẩy sự tiến hóa của muôn loài.

Khác với con vật chỉ tồn tại theo bản năng, con người kể từ khi xuất hiện đã luôn phải đấu tranh để sống còn và phát triển. Lịch sử tiến hóa của nhân loại chính là lịch sử đấu tranh sinh tồn quyết liệt của con người trong chinh phục tự nhiên và đấu tranh xã hội.


M_tả

LUẬN VĂN - Hình tượng người phụ nữ trong thơ tố hữu


1. Trong nền văn học Việt Nam hiện đại, Tố Hữu được đánh giá là đại biểu xuất sắc và tiêu biểu cho nền thơ ca cách mạng. Trên sáu thập kỉ qua, thơ ông đã truyền lửa và gieo hạt cho biết bao thế hệ độc giả, người ta tìm thấy đường đi, lẽ sống và lí tưởng sống đích thực trong thơ Tố Hữu. Chính vì thế thơ ông đã và đang được nhiều sự quan tâm nghiên cứu của của giới khoa học trong đó có các nhà ngôn ngữ học.

2. Thơ Tố Hữu tuy đã được nghiên cứu, đánh giá trên nhiều mặt nhưng chưa có tác giả nào chuyên sâu vào nghiên cứu khảo sát hình tượng người phụ nữ trong thơ ông dưới góc độ ngôn ngữ. Vì vậy, luận văn này chúng tôi đi theo hướng còn để ngỏ nhằm góp phần làm rõ hơn phong cách của một nhà thơ cộng sản với tư tưởng nhân đạo sâu sắc, mới mẻ và nhằm tôn vinh người phụ nữ.


M_tả

Nghệ thuật kịch lưu quang vũ


Năm 2000, Lưu Quang Vũ được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật. Dưới ánh mặt trời, anh đã có một chỗ đứng vinh dự mà bất kỳ nhà viết kòch nào cũng ao ước. Qua những trang kòch sinh động, Lưu Quang Vũ đã góp sức xây đời, tác động tích cực vào xã hội, kiên quyết chống sự bảo thủ trì trệ, sự lộng hành của cái xấu, cái ác. Chứng kiến bao cảnh đời chìm nổi thời hậu chiến, Lưu Quang Vũ không ngừng băn khoăn, trăn trở về những nỗi niềm nhân thế và nghiền ngẫm niềm bi cảm của phận người. Là thi só, Lưu Quang Vũ rất yêu thơ, anh hằng ao ước thơ của mình sẽ “thắng được thời gian và ở lại với lòng người”. Song chính các kòch bản văn học lại mang đến cho anh những giải thưởng lớn. Tuy vậy, cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào đi sâu tìm hiểu toàn diện nghệ thuật kòch Lưu Quang Vũ.


M_tả

NIÊN LUẬN - NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN NGẮN HEMINGWAY


Hemingway là nhà văn Mĩ đoạt giải Nobel văn học. Sáng tác của ông đã để lại một dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung.
Ông nổi tiếng với những cuốn tiểu thuyết như: Mặt trời vẫn mọc (The Sun Also Rises 1926), Giã từ vũ khí (A Farewell to Arm 1929), Chuông nguyện hồn ai (For Whom the Belle Tolls 1940), song truyện ngắn của ông cũng được đánh giá là những tác phẩm mang phong vị độc đáo hiến thấy, ngay từ tập truyện đầu tay như: Trong thời đại chúng ta (1924).


M_tả

Đặc điểm nội dung và nghệ thuật tiểu thuyết tà dương của dazai osamu


Nhật Bản là một cường quốc kinh tế thế giới, có một lịch sử lâu đời, một nền văn hóa phong phú và một nền văn học độc đáo. Nhật Bản không chỉ là đất nước xinh đẹp của Kimono, hoa anh đào của ngọn núi lừng danh Phú Sĩ với vẻ đẹp lộng lẫy và huyền ảo nơi hun đúc nên bao tâm hồn văn nhân Nhật Bản mà Nhật Bản có lẽ còn ấn tượng hơn bởi một hiện tượng thần kì, từ một đất nước đổ nát sau chiến tranh, đã vươn lên thành một siêu cường quốc trên thế giới, sự phát triển đó khiến nhân loại ngưỡng vọng và khâm phục về ý chí nghị lực của dân tộc này, một dân tộc dám sống cho niềm tin và sẵn sàng hi sinh vì lí tưởng của mình.


M_tả

Tài liệu đặc sắc nghệ thuật thơ phùng cung


1.1. Phong trào Thơ mới (1932- 1945) là một hiện tượng nổi bật của văn học Việt Nam, đặc biệt là của thơ ca trong thế kỉ XX. Thơ mới trước hết là cuộc thể nghiệm táo bạo, đánh dấu bước ngoặt trong lộ trình đổi mới của lịch sử văn học Việt Nam, có ảnh hưởng mạnh mẽ, lâu dài cho đến tận hôm nay và mãi sau này. Những thành tựu của Thơ mới đã tồn tại như một thách thức lớn đối với các thế hệ thơ kế tiếp. Hiện vẫn rất nhiều nhà thơ hiện đại và cả đương đại chưa thể thoát khỏi từ trường của Thơ mới. Tuy nhiên, lịch sử văn học nói chung và lịch sử thi ca nói riêng là một dòng chảy mang tính biện chứng với sự tiếp nối của nhiều thế hệ nhà thơ không ngừng cách tân để thúc đẩy nền văn học nước nhà phát triển. Trong hành trình cách tân thi ca nhằm vượt thoát từ trường Thơ mới để tìm đến những giá trị mới, phải kể đến các gương mặt tiêu biểu của phong trào Nhân văn Giai phẩm (1956- 1958) như Lê Đạt, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Hoàng Cầm, Phùng Quán, Hữu Loan, Phùng Cung... Họ là thế hệ nhà thơ kế tiếp các nhà thơ thuộc phong trào Thơ mới muốn thực hiện một cuộc cách tân toàn diện trong lĩnh vực thi ca. Tuy nhiên, như nhà thơ Mai Văn Phấn đã từng nhận định khi nói về những gương mặt cách tân tiên phong: “Qua  mỗi giai đoạn một số nhà thơ đã tự phát và đơn độc khởi xướng cách tân, nhưng không trụ được trong dòng thác thói quen thẩm mĩ của đám đông lúc đó, bởi rất nhiều nguyên nhân như hoàn cảnh lịch sử, mặt bằng văn hóa bạn đọc và tài năng không đủ để độc sáng” [58, 382], do nhiều lí do mà Nhân văn Giai phẩm đã trở thành cuộc cách mạng văn học (nói chung) và thi ca nói riêng không thành.


M_tả

Tố Tâm với thể loại tiểu thuyết


Trong lịch sử văn học Việt Nam, thập kỷ 20 của thế kỷ XX có một vị trí vô cùng trọng đại. Đó là khoảng thời gian đệm tích tụ năng lượng cho một cuộc nhảy vọt, là mối giao thoa văn hoá Đông - Tây kim cổ, là thời điểm diễn ra cuộc tranh giành kịch liệt giữa cái cũ - vốn đã tồn tại lâu trong quá khứ với cái mới - đang được du nhập ồ ạt từ bên ngoài vào. Và đây cũng là lúc nền văn học Việt Nam đang bước những bước dài để chuyển mình từ phạm trù trung đại sang phạm trù hiện đại mà dấu hiệu rõ nhất là tiểu thuyết “Tố Tâm”, một điểm mốc đặc biệt trên hành trình phát triển của văn học và tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.


M_tả

TIỂU LUẬN - Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên


Nhằm tìm hiểu về những di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam nói chung và của đồng bào Tây Nguyên nói riêng, chúng em đã chọn đề tài “cồng chiêng Tây Nguyên” để nghiên cứu. Mục đích tiếp theo là để tiếp thu những tinh hoa, những cái hay trong âm nhạc cồng chiêng của người Tây Nguyên đến mức độ nào mà UNESCO phải công nhận là 1 di sản văn hóa – chỉ ở cồng chiêng Tây Nguyên (Dù ở ĐNÁ có rất nhiều nước có cồng chiêng nhưng chỉ riêng cồng chiêng Tây Nguyên là được công
nhận).


M_tả

Nội dung và nghệ thuật truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm


Trong nghiên cứu, tập Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm được chú ý từ khá sớm. Chúng tôi có thể kể ra một số công trình cơ bản đề cập tới nội dung và nghệ thuật của tập truyện để lấy đó làm cơ sở cho quá trình tìm hiểu văn bản. Trước hết, chúng tôi tìm hiểu cuốn Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, của nhóm nghiên cứu Đặng Thanh Lê, Hoàng Hữu Yên, Phạm Luận. Các nhà nghiên cứu đã dành một số dòng ngắn gọn để giới thiệu về Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân phả. Công trình này xác nhận: “Tác phẩm chính viết bằng chữ Hán còn để lại, là tập Truyền kỳ tân phả.


M_tả

Luận văn truyền kỳ tân phả của đoàn thị điểm từ góc nhìn thi pháp tự sự


Văn học trung đại Việt Nam là một di sản văn hóa tinh thần to lớn, có ý nghĩa nền tảng cho sự xây dựng và phát triển văn hóa hiện đại của dân tộc. Chúng ta đang kế thừa một di sản thi ca đồ sộ và phong phú với truyền thống nghệ thuật trữ tình mạnh mẽ hom truyền thống tự sự. Quan niệm mỹ học “văn dĩ tải đạo” và quan niệm “thi ngôn chí” đã níu kéo và giới hạn các nhà nho Việt Nam chậm đến với các thể loại văn xuôi tự sự. Tuy vậy, thế kỷ XIV chúng ta đã có Việt điện u lỉnh, cuối thế kỷ XV đã có Lĩnh nam chích quái, rồi làn lượt tới Thiền uyển tập anh, Truyền kỳ mạn lục, Thánh tông di thảo, Hoàng Lê nhất thống chỉ.. .bên cạnh các truyện nôm khuyết danh. Như vậy, ở mỗi thể loại, qua các thời kỳ phát triển văn học trung đại Việt Nam luôn gắn với sự xuất hiện của các tác giả và tác phẩm xuất sắc. Tác phẩm Truyền kỳ tân phả (còn có tên gọi ỉầ“Tục truyền kỳ”) của Đoàn Thị Điểm viết bằng chữ Hán là truyện kể về cuộc đời, thời thế, con người, tuy xuất hiện sau Truyền kỳ mạn lục gàn hai thế kỷ nhưng vẫn như một viên ngọc quý trong kho tàng văn chương tự sự Việt Nam. Gắn liền với âm hưởng trữ tình của tác phẩm đồng tác giả Chinh phụ ngâm, “Truyền kỳ tân phả đã trở thành thứ vật dẫn biểu hiện cho việc đề cao nữ quyền”, [79].


M_tả

Văn bản truyền kỳ tân phả và mối quan hệ với các thần tích


Dựa trên cơ sở tư liệu là các văn bản Hán Nôm hiện đang được lưu trữ trong thư viện Viên Nghiên cứu Hán Nôm, Luận văn đi sâu nghiên cứu về văn bản tác phẩm Truyền kì tân phả, sau đó tìm hiểu về mối quan hệ giữa Truyền kì tân phả và các thần tích hữu quan. Cụ thể là các văn bản thần tích có liên quan tới hai truyện Hải khẩu linh từ và Vân Cát thần nữ trong Truyền kì tân phả, qua đây có thể góp phần làm rõ thêm một số vấn đề về hình tượng nàng cung phi Bích Châu và Thánh mẫu Liễu Hạnh.


M_tả

SKKN dạy học TRÍCH đoạn UY LIT xơ TRỞ về THEO đặc TRƯNG THỂ LOẠI


1.1. Như chúng ta biết, tất cả các tác phẩm văn học đều mang những đặc điểm chung của thể loại, của loại hình văn học. Việc dạy, học tác phẩm văn học từ góc nhìn thể loại đã được nói đến từ lâu nhưng trong thực tế nguyên tắc này dường như đang bị
bỏ qua, đặc biệt là giảng dạy các trích đoạn sử thi văn học nước ngoài trong chương trình THPT.
1.2. So với phần văn học Việt Nam, phần văn học nước ngoài trong chương trình THPT có những ưu thế và khó khăn riêng cho người dạy, người học. Vì thế việc tìm kiếm một phương pháp dạy tối ưu luôn đặt ra cho mỗi người giáo viên dạy văn nhất là
khi dạy các trích đoạn thuộc thể loại sử thi.


M_tả

Tín ngưỡng dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ


Hình thành từ thuở sơ khai, tín ngưỡng, tôn giáo là niềm tin và sự ngưỡng vọng của loài người vào những cái "siêu nhiên", "cái thiêng", đối lập với “cái trần tục”. Tín ngưỡng ra đời không chỉ đáp ứng nhu cầu giải thích thế giới theo tư duy của loài người ở những trình độ nhất định mà còn để an ủi bản thân, gửi gắm những ước vọng mà họ chưa thực hiện được, từ đó giúp con người sống nhân văn hơn. Trải qua hàng triệu năm, tín ngưỡng đã tồn tại, phát triển cùng với loài người và chính là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh đa dạng, phức tạp…Tùy theo hoàn cảnh, trình độ phát triển kinh tế, xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà niềm tin vào "cái thiêng" thể hiện ra các hình thức tôn giáo, tín ngưỡng cụ thể khác nhau. Chẳng hạn: niềm tin vào Đức Chúa Trời của Kitô giáo, niềm tin vào Đức Phật của Phật giáo, niềm tin vào Thánh, Thần, ma quỷ của tín ngưỡng dân gian... Hình thức tôn giáo, tín ngưỡng này dù có nội hàm rộng hẹp khác nhau, phổ quát toàn thế giới hay là đặc thù cho mỗi dân tộc thì đều là một thực thể biểu hiện niềm tin vào “cái thiêng” chung của con người. Nếu như tôn giáo là niềm tin vào lực lượng siêu nhiên theo những nguyên tắc thực hành nhất định với giáo lý, giáo hội, giáo đường lớp lang thì tín ngưỡng dân gian lại phản ánh những ước nguyện tâm linh của cộng động một cách tự nhiên, tự phát, thông qua những phong tục, tập quán truyền thống.


M_tả

TÀI LIỆU - Văn học 1900 - 1945


Phan Bội Châu trước đó tên là Phan Văn San, sau vì trùng tên với Vua Duy Tân (Vĩnh San) mới đổi thành Phan Bội Châu (Bội : đeo; Châu : Ngọc Châu). Phan Bội Châu có biệt hiệu là Sào Nam (lấy từ câu Việt Ðiểu Sào Nam Chi"), tỏ ý luôn thiết tha với quê hương đất nước. Ông còn có một tên hiệu khác là Thị Hán, ngụ ý là hảo hán, một đấng nam nhi lỗi lạc ở đời. Khi viết bài "Pháp Việt đề huề chính kiến thủ" ông lại ký tên là Ðộc Tỉnh Tử.


M_tả

TỔNG HỢP NHỮNG BÀI VĂN “CHỨNG MINH NHẬN ĐỊNH VỀ TÁC PHẨM CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ CỦA NGUYỄN TUÂN”


Đề số 1: Người ta thường nói Nguyễn Tuân là một nghệ sĩ bậc thầy. Anh (chị) hãy nêu lên và phân tích một vài yếu tố nghệ thuật trong truyện Chữ người tử tù để chứng minh nhận định trên.

Chữ người tử tù là một tác phẩm xuất sắc nhất trong tập truyện ngắn Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân. Đây là câu chuyện về một viên quản ngục mến mộ tài năng, nhất là tài viết chữ (chữ Hán) đẹp nổi tiếng của người tử tù. Ông ta đã tự hạ mình, đối đãi tử tế với người tù với mong ước xin được chữ quý. Tưởng đã hết hi vọng xin chữ nhưng cuối cùng ông ta lại được người tử tù cho chữ, kèm theo lời khuyên hãy bỏ nghề coi ngục, về quê sổng thanh bạch để xứng với thú chơi chữ đẹp. Thông qua câu chuyện ấy, đặc biệt là cảnh cho chữ, tác giả muốn nêu lên vẻ đẹp hiên ngang của người tử tù và quá trình đi tìm Cái Đẹp của viên quản ngục. Từ đó, nhà văn khẳng định sự chiến thắng của Cái Đẹp, đẹp chữ viết, đẹp đức cao, đẹp nhân cách trước những cái xấu xa, thấp hèn đầy rẫy trong cuộc đời.

M_tả

Phong cách nghệ thuật thơ Huy Cận qua Lửa thiêng


1.1. Nghiên cứu thơ Huy Cận tức là nghiên cứu một trong những gương mặt thơ lớn của thời đại, một trong những nhà văn hóa có đóng góp đáng kể cho sự nghiệp văn học, văn hóa dân tộc Việt Nam thế kỷ XX.
Trên thi đàn Việt Nam vào những năm 1930-1945, từ phong trào Thơ mới đã xuất hiện những tài năng thơ, trong đó có Huy Cận, Xuân Diệu… Nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua quyển Thi nhân Việt Nam đã nhận xét bước đầu về phong cách của các nhà thơ trẻ: “Tôi quyết rằng trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này. Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng một lần một hồn thơ rộng mở như Thế Lữ, mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy Thông, trong sáng như Nguyễn Nhược Pháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên và thiết tha, rạo rực, băn khoăn như Xuân Diệu.” [128, tr. 37]


M_tả

Tiểu thuyết lịch sử Sông Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác (từ góc độ thể loại)


Đất nước chuyển biến mạnh mẽ trên con đường đổi mới, nhất là từ 1986. Đảng chủ trương mở cửa, hội nhập với cộng đồng Quốc tế, nhanh chóng đưa đất nước ra khỏi nguy cơ tụt hậu, đưa nền kinh tế phát triển theo cơ chế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Trong đổi mới toàn diện của đất nước, những đứa con xa đã trở về, trở về bằng cả con người và bằng cả những giá trị tinh thần.


M_tả

Sự vận động quan niệm về con người của nguyễn minh châu từ cửa sông đến cỏ lau


Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy con người là đối tượng chủ yếu, "dù miêu tả theo hình thức nào, thần linh, ma quỷ, miêu tả đồ vật hoặc đơn giản là miêu tả các con vật văn học đều thể hiện con người" [37; tr.43].
Quan niệm nghệ thuật về con người là khái niệm trung tâm của thi pháp học có nội hàm phong phú và phức tạp. Khái niệm con người được nhiều ngành khoa học như: sinh học, tâm lí học, xã hội học, triết học, văn học... quan tâm nghiên cứu. Mỗi ngành khoa học nghiên cứu một khía cạnh khác nhau và vấn đề con người đã trở thành tâm điểm chú ý của văn học ở tất cả
các khâu, từ những chuyện bếp núc của sáng tác đến khi tiếp nhận tác phẩm ở phía người đọc. Tìm hiểu vấn đề này cũng là khám phá một phương diện quan trọng trong thế giới nghệ thuật của nhà văn.


M_tả

Đặc điểm truyện ngắn nguyễn minh châu trước 1975


Nền văn học Việt Nam hiện đại đã được điểm nét son bằng chính cuộc đời và tác phẩm của những nhà văn chân chính, trong đó có nhà văn Nguyễn Minh Châu. Có lúc sáng tác của ông đã trở thành “một hiện tượng văn học”, thu hút sự quan tâm của dư luận. Văn chương của Nguyễn Minh Châu gắn bó chặt chẽ với những bước đi cơ bản của nền văn học dân tộc trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ và những năm tháng sau chiến tranh.
Nguyễn Minh Châu là một nhà văn tài năng, luôn đi tìm cái đích của chân, thiện, mỹ, tìm tòi khám phá cho ra lẽ sống của nghiệp văn chương. Ông yêu cầu rất cao về thiên chức người nghệ sĩ, cốt lõi là phải có cái tâm. Ngay từ bắt đầu cầm bút tới lúc hấp hối trên giường bệnh, Nguyễn Minh Châu luôn có trách nhiệm đối với công việc của mình. Khi là nhà văn quân đội, ông rất nhạy cảm với yêu cầu của cuộc sống cách mạng và sau này, ông sớm nhận ra con đường tất yếu phải đi đến của một nền văn học và đã trở thành người lính dũng cảm, kiên trì đấu tranh cho sự nghiệp đổi mới văn học.


M_tả

D. Luận văn chuyên ngành Lịch sử - Văn Hóa (History & Cultural)