Showing posts with label F. Bài viết chuyên ngành Điện tự động hóa (Automation Electrical). Show all posts
Showing posts with label F. Bài viết chuyên ngành Điện tự động hóa (Automation Electrical). Show all posts

Lưới điện nhỏ với dữ liệu lớn - Tương lai của điện lưới


Bằng những lập luận dưới đây, tác giả Robert Hebner, Giám đốc Trung tâm Cơ điện tại Đại học Texas ở Austin cho chúng ta thấy phát điện phân tán và giao dịch tự động sẽ thay đổi cách chúng ta sản xuất và tiêu thụ điện năng trong những năm tới.


M_tả

Trung tâm điều khiển nhà thông minh Broadlink RM-Pro


Trung tâm điều khiển Broadlink RM-Pro – Đột phá trong công nghệ nhà thông minh

Thiết bị trung tâm điều khiển Broadlink RM-Pro là phiên bản nâng cấp phần cứng mới nhất của Broadlink RM2 đã rất thành công, mang đến một bước đột phá mới trong lĩnh vực nhà thông minh không dây. Giờ đây mọi thiết bị trong nhà được kết nối dễ dàng hơn, điều khiển trực tiếp và trực quan trên chính smartphone của bạn.


M_tả

Máy giặt dành cho người lười: Giặt xong tự phơi khô và gấp, dễ dàng cất vào tủ


Một phát minh mới tưởng chừng sẽ trở nên một công cụ hữu hiệu cho gia đình bạn. Nhưng bấy nhiêu có lẽ vẫn chưa thể đáp ứng được sự khó tính của khách hàng, chỉ vì một nhược điểm duy nhất...

Chủ nhân của chiếc máy độc đáo này, cũng như bao người khác, đều nhận ra đó là nỗi khó chịu, một cơn ác mộng thực sự khi đối mặt với cả đống quần áo nhàu nhĩ vừa “ra lò” khỏi lồng giặt, đang chờ được là, gấp phẳng phiu. Do đó, sự xuất hiện của những thiết bị tự động, thoạt tiên, có vẻ là phương pháp cứu cánh hữu hiệu cho núi việc nhà của bạn. Những dường như FoldiMate – cỗ máy với khả năng gấp quần áo tự động – lại không phải là ứng cử viên phù hợp và sáng giá nhất trong mọi hoàn cảnh.


M_tả

Watchdog Timer và vai trò đối với thiết bị nhúng trong hệ thống giám sát công nghiệp


Tóm tắt: 

Trong các hệ thống giám sát và điều khiển công nghiệp hiện hành, thiết bị logic khả trình (Programmable Logic Controller) đóng vai trò chủ chốt. Kèm theo đó là các thiết bị chấp hành, cảm biến, module vào ra mở rộng, module truyền thông, cable mạng,… Tất cả các thiết bị đều là thiết kế theo chuẩn công nghiệp, độ bền cao, là thiết bị ngoại nhập nên giá thành, chi phí đầu tư ban đầu, chi phí sửa chưa nâng cấp rất lớn. Điều đó không thực sự phù hợp với các ứng dụng nhỏ, hoặc những ứng dụng chỉ yêu cầu giám sát trong nhà xưởng đơn thuần.

M_tả

Cấu tạo và nguyên lý hoạt động của transmitter đo áp suất và chênh áp


Các cảm biến chênh áp thông thường được thiết kế hoạt động dựa trên nguyên lý đo sự chênh lệch điện dung. Trong thiết kế này, phần tử cảm biến là một màng kim loại đàn hồi được đặt giữa 2 bề mặt kim loại cố định, tất cả có 3 tấm kim loại tạo thành 2 tụ điện có chung 1 bản cực. Dung môi (thường là silicone lỏng có thể chuyển động được từ màng cách li sang màng cảm biến và làm thay đổi điện dung của 2 tụ điện.


M_tả

Tối ưu hóa hệ thống HVAC với các cảm biến của Honeywell


Đó là Cảm biến bụi HPM kiểm soát không khí bởi những chất gây ô nhiễm có hại dạng hạt tiềm ẩn từ bụi, bồ hóng và khói; Máy biến năng áp suất công nghiệp nặng PX3 theo dõi áp suất được tạo ra nhằm giảm thiểu tổng chi phí quản lý áp suất cho hệ thống HVAC và hệ thống làm lạnh.


M_tả

Điều chỉnh zero, span thiết bị đo tương tự (analog instrument) trong hiệu chuẩn thiết bị đo lường


Mục đích của việc hiệu chuẩn là đảm bảo đầu vào và đầu ra của thiết bị đo chắc chắn tương đương nhau trong suốt toàn bộ phạm vi hoạt động. Chúng ta có thể biểu diển nó dưới dạng đồ thị, nó cho thấy mối liên hệ giữa đầu vào và đầu ra của một thiết bị đo. Đối với đại đa số các thiết bị đo trong công nghiệp thì đồ thị này là tuyến tính:

M_tả

Sự khác biệt giữa hiệu chuẩn với thiết lập & điều chỉnh dải đo


Thiết bị đo lường có ít nhất một đầu vào và một đầu ra. Đối với cảm biến áp suất, đầu vào sẽ là áp suất chất lưu và đầu ra thường là một tín hiệu điện. Đối với mạch vòng chỉ thị, đầu vào là tín hiệu dòng điện 4-20mA và đầu ra sẽ là hiển thị cho con người có thể đọc được. Đối với thiết bị điều khiển tốc độ động cơ đàu vào sẽ là tín hiệu điện và đầu ra là nguồn điện cho động cơ.


M_tả

Hướng dẫn sử dụng đồng hồ đo điện vạn năng (VOM)

1. Giới thiệu về đồng hồ vạn năng (VOM).


Đồng hồ vạn năng (VOM) là thiết bị đo không thể thiếu được với bất kỳ một kỹ thuật viên điện tử nào, đồng hồ vạn năng có 4 chức năng chính là Đo điện trở, đo điện áp DC, đo điện áp AC và đo dòng điện.

Ưu điểm của đồng hồ là đo nhanh, kiểm tra được nhiều loại linh kiện, thấy được sự phóng nạp của tụ điện, tuy nhiên đồng hồ này có hạn chế về độ chính xác và có trở kháng thấp khoảng 20K/Vol do vây khi đo vào các mạch cho dòng thấp chúng bị sụt áp.


M_tả

Tìm hiệu chung về bộ mã hóa vòng quay (encoder)


1. Giới thiệu chung về encoder.

Bộ mã hóa số vòng quay encoder là một thiết bị cơ điện có khả năng làm biến đổi chuyển động tuyến tính (chuyển động thẳng) hoặc chuyển động tròn thành tín hiệu số hoặc xung. Khi có sự thay đổi vị trí trục quay, các bộ mã hoá được sử dụng để kiểm tra góc lệch của trục đang làm việc. Các xung đầu ra của bộ mã hoá được nhận và kiểm soát bởi bộ phận cảm biến, để xác định đúng vị trí máy và tốc độ di chuyển. Nhờ có encoder, các động cơ điện được điều khiển vị trí chính xác theo tín hiệu điều khiển.


(Click vào để xem ảnh gốc có chất lượng tốt hơn)

Cấu tạo Encoder gồm:

- Một bộ thu phát quang (LED phát – LED thu).
- Một hệ thống lỗ (rãnh) được bố trí trên một đĩa tròn hoặc một thanh thẳng theo một quy tắc nào đó.


(Click vào để xem ảnh gốc có chất lượng tốt hơn)

2. Nguyên tắc hoạt động của encoder.

Gồm một bộ thu phát hồng ngoại và một đĩa cho chia lỗ được đặt giữa hệ thống thu phát này. Đĩa được gắn trên trục của động cơ hoặc trục chuyển động. Quá trình đĩa chuyển động làm cho phần photo sensor thay đổi trạng thái và tạo ra một chuỗi các xung vuông trên đầu ra. Đây là thông số kĩ thuật quan trọng của một encoder. Tuỳ theo số lỗ trên đĩa mà số xung tạo ra trong một vòng quay của đĩa khác nhau. Số lượng xung càng lớn nghĩa là số lỗ càng nhiều trên một vòng tròn 360 độ. Nghĩa là ta càng có thể điều khiển chính xác. Và dĩ nhiên bộ encoder càng đắt tiền. Chúng ta có thể thấy có nhiều loại encoder dùng từ trường hoặc trên đĩa có nhiều vòng lỗ nhưng ở đây sẽ giới thiệu loại phổ dụng và đơn giản nhất là sử dụng ánh sáng như trên. Trong thực tế chúng ta có thể thấy các bộ encoder trên các động cơ DC chứ không chỉ là các thành phần độc lập. Việc lựa chọn và sử dụng hai loại encoder này đều có những ưu và nhược điểm riêng. Hình dạng các encoder :


Encoder thường có 6 dây (hoặc 4 dây tùy loại) bao gồm 2 dây nguồn, 2 dây tín hiệu A và B và dây pha Z.2 dây tín hiệu A và B cho phép bạn xác định số vòng quay của động cơ ,vận tốc và chiều quay của động cơ. Để lập trình xử lý tín hiệu encoder, bạn có thể nối 2 dây tín hiệu A và B vào 2 chân timer hoặc ngắt ngoài của vi điều khiển, thiết lập vi điều khiển ở chế độ counter, vi điều khiển sẽ đếm xung từ vi điều khiển.

3. Phân loại cơ bản về Encoder.

Encoder mục đích dùng để quản lý vị trí góc của một đĩa quay, đĩa quay có thể là bánh xe, trục động cơ, hoặc bất kỳ thiết bị quay nào cần xác định vị trí góc.

Encoder được chia làm 2 loại, absolute encoder và incremental encoder. Tạm dịch là encoder tuyệt đối và encoder tương đối.

Nếu dịch sát nghĩa, khi ta đọc absolute encoder, có nghĩa là encoder tuyệt đối, tức là tín hiệu ta nhận được, chỉ rõ ràng vị trí của encoder, chúng ta không cần xử lý gì thêm, cũng biết chính xác vị trí của encoder.

Còn incremental encoder, là loại encoder chỉ có 1, 2, hoặc tối đa là 3 vòng lỗ. Các bạn hình dung thế này, nếu bây giờ các bạn đục một lỗ trên một cái đĩa quay, thì cứ mỗi lần đĩa quay 1 vòng, các bạn sẽ nhận được tín hiệu, và các bạn đã biết đĩa quay một vòng. Nếu bây giờ các bạn có nhiều lỗ hơn, các bạn sẽ có được thông tin chi tiết hơn, có nghĩa là đĩa quay 1/4 vong, 1/8 vòng, hoặc 1/n vòng, tùy theo số lỗ nằm trên incremental encoder.

Cứ mỗi lần đi qua một lỗ, chúng ta phải lập trình để thiết bị đo đếm lên 1. Do vậy, encoder loại này có tên incremental encoder (encoder tăng lên 1 đơn vị).


- Lỗ định vị giúp xác định chính xác số vòng quay mà Encoder đo được.
- Để biết được chiều quay của đĩa, lắp thêm 1 vòng rãnh so le với vòng rãnh ngoài của Encoder.

4. Nguyên lý hoạt động cơ bản của encoder, LED và lỗ.

Nguyên lý cơ bản của encoder, đó là một đĩa tròn xoay, quay quanh trục. Trên đĩa có các lỗ (rãnh). Người ta dùng một đèn led để chiếu lên mặt đĩa. Khi đĩa quay, chỗ không có lỗ (rãnh), đèn led không chiếu xuyên qua được, chỗ có lỗ (rãnh), đèn led sẽ chiếu xuyên qua. Khi đó, phía mặt bên kia của đĩa, người ta đặt một con mắt thu. Với các tín hiệu có, hoặc không có ánh sáng chiếu qua, người ta ghi nhận được đèn led có chiếu qua lỗ hay không.

Khi trục quay, giả sử trên đĩa chỉ có một lỗ duy nhất, cứ mỗi lần con mắt thu nhận được tín hiệu đèn led, thì có nghĩa là đĩa đã quay được một vòng.

Đây là nguyên lý rất cơ bản của encoder.

Tuy nhiên, những vấn đề được đặt ra là, làm sao để xác định chính xác hơn vị trí của đĩa quay (mịn hơn) và làm thế nào để xác định được đĩa đang quay theo chiều nào? Đó chính là vấn đề để chúng ta tìm hiểu về encoder.

Hình sau sẽ minh họa nguyên lý cơ bản của hoạt động encoder.


(Click vào để xem ảnh gốc có chất lượng tốt hơn)

Các bạn thấy trong hình, có một đĩa ma sát, không quay, đó là đĩa cố định, thực ra là để che khe hẹp ánh sáng đi qua, giúp cho việc đọc encoder được chính xác hơn mà thôi. 

Hoạt động của hai loại encoder này như thế nào ?

>>> Absolute encoder (encoder tuyệt đối).

Vấn đề chúng ta sẽ quan tâm ở đây, chính là vấn đề về độ mịn của encoder, có nghĩa là làm thế nào biết đĩa đã quay 1/2 vòng, 1/4 vòng, 1/8 vòng hay 1/n vòng, chứ không phải chỉ biết đĩa đã quay được một vòng.

Quay lại bài toán cơ bản về bit và số bit, chúng ta xem xét vấn đề theo một cách hoàn toàn toán học nhé:

Với một số nhị phân có 2 chữ số, chúng ta sẽ có 00, 01, 10, 11, tức là 4 trạng thái. Điều đó có nghĩa là với 2 chữ số, chúng ta có thể chia đĩa encoder thành 4 phần bằng nhau. Và khi quay, chúng ta sẽ xác định được độ chính xác đến 1/4 vòng.

Ví dụ: Encoder – 2 bits

- Led 1 có, led 2 có : Chúng ta xác định được encoder đang ở góc phần 4 thứ nhất. Trạng thái 11.
- Led 1 không, led 2 có : Chúng ta xác định được encoder đang ở góc phần 4 thứ 3. Trạng thái 01.


Tương tự như vậy, nếu với một số có n chữ số, chúng ta sẽ xác định được độ chính xác đến 1/(2^n) vòng.

Ví dụ với Encoder - 8 bits : Ta xác định được 1 / 256 vòng.
256 là độ phân giải của Encoder.

Tùy vào từng ứng dụng mà người ta có thể thiết kế một bộ encoder với cách sắp xếp các rãnh khác nhau.


Vậy cách thiết kế absolute encoder như thế nào ?

Các bạn luôn chú ý rằng, để thiết kế encoder tuyệt đối, người ta luôn vẽ sao cho bit thứ N (đối với encoder có N vòng lỗ) nằm ở trong cùng, có nghĩa là lỗ lớn nhất có góc rộng 180 độ, nằm trong cùng. Bởi vì chúng ta thấy rằng, bit 0 (nếu xem là số nhị phân) sẽ thay đổi liên tục mỗi 1/2^N vòng quay, vì thế, chúng ta cần rất nhiều lỗ. Nếu đặt ở trong thì không thể nào vẽ được, vì ở trong bán kính nhỏ hơn. Ngoài ra, nếu đặt ở trong, thì về kết cấu cơ khí, nó quá gần trục, và quá nhiều lỗ, sẽ rất yếu. Vì hai điểm này, nên bit 0 luôn đặt ở ngoài cùng, và bit (N -1) luôn đặt trong cùng như hình dưới.


>>> Incremental encoder (encoder tương đối).

Nhận thấy một điều rằng, encoder tuyệt đối rất có lợi cho những trường hợp khi góc quay là nhỏ, và động cơ không quay nhiều vòng. Khi đó, việc xử lý encoder tuyệt đối trở nên dễ dàng cho người dùng hơn, vì chỉ cần đọc giá trị là chúng ta biết ngay được vị trí góc của trục quay.

Tuy nhiên, nếu động cơ quay nhiều vòng, điều này không có lợi, bởi vì khi đó, chúng ta phải xử lý để đếm số vòng quay của trục.

Ngoài ra, như các bạn thấy đó, nếu thiết kế encoder tuyệt đối, chúng ta cần quá nhiều vòng lỗ, và dẫn tới giới hạn về kích thước của encoder, bởi vì việc gia công chính xác các lỗ quá nhỏ là không thể thực hiện được. Chưa kể rằng việc thiết kế một dãy đèn led và con mắt thu cũng ảnh hưởng rất lớn đến kích thước giới hạn này.

Tuy nhiên, điều này được khắc phục bằng incremental encoder một cách khá đơn giản. Chính vì vậy, ngày nay, đa số người ta sử dụng incremental encoder trong những ứng dụng hiện đại.

Hoạt động của incremental encoder.

Thật đơn giản, incremental encoder, sẽ tăng 1 đơn vị khi một lần lên xuống của cạnh xung.

Các bạn xem hình encoder sau: 


Các bạn thấy rằng, cứ mỗi lần quay qua một lỗ, thì encoder sẽ tăng một đơn vị trong biến đếm.

Tuy nhiên, một vấn đề là làm sao để biết được encoder quay hết một vòng? Nếu cứ đếm vô hạn như thế này, thì chúng ta không thể biết được khi nào nó quay hết một vòng. Nếu bây giờ các bạn đếm số lỗ encoder để biết nó đã quay một vòng, thì nếu với encoder 1000 lỗ chắc các bạn sẽ đếm đến sáng luôn.

Chưa kể, mỗi lần có những rung động nào đó mà ta không quản lý được, encoder sẽ bị sai một xung. Khi đó, nếu hoạt động lâu dài, sai số này sẽ tích lũy, ngày hôm nay sai một xung, ngày hôm sau sai một xung. Đến cuối cùng, có thể động cơ quay 2 vòng rồi các bạn mới đếm được 1 vòng.

Để tránh điều tai hại này xảy ra, người ta đưa vào thêm một lỗ định vị để đếm số vòng đã quay của encoder.

Như vậy, cho dù có lệch xung, mà chúng ta thấy rằng encoder đi ngang qua lỗ định vị này, thì chúng ta sẽ biết là encoder đã bị đếm sai ở đâu đó. Nếu vì một rung động nào đó, mà chúng ta không thấy encoder đi qua lỗ định vị, vậy thì từ số xung, và việc đi qua lỗ định vị, chúng ta sẽ biết rõ hiện tượng sai của encoder.

Đây là hình encoder có lỗ định vị:


Tuy nhiên, một vấn đề lớn nữa là, làm sao chúng ta biết encoder đang xoay theo chiều nào? Bởi vì cho dù xoay theo chiều nào, thì tín hiệu encoder cũng chỉ là các xung đơn lẻ và xoay theo hai chiều đều giống nhau.

Chính vì vậy, người ta đặt thêm một vòng lỗ ở giữa vòng lỗ thứ 1 và lỗ định vị như hình sau:


Chú ý rằng, vị trí góc của các lỗ vòng 1 và các lỗ vòng 2 lệch nhau. Các cạnh của lỗ vòng 2 nằm ngay giữa các lỗ vòng 1 và ngược lại.

- Nếu xung A từ mức cao xuống mức thấp,mà lúc đó xung B đang ở mức cao, thì chúng ta xác định được chiều chuyển động từ phải sang trái.
-  Khi xung A từ mức cao xuống mức thấp,mà lúc đó xung B đang ở mức thấp,thì chúng ta xác định được chiều chuyển động từ trái sang phải.


Chúng ta sẽ khảo sát tiếp vấn đề encoder trong phần tín hiệu xung để hiểu rõ hơn về encoder. Tuy nhiên, các bạn sẽ thấy một điều rằng, thay vì làm 2 vòng encoder, và dùng 2 đèn LED đặt thẳng hàng, thì người ta chỉ cần làm 1 vòng lỗ, và đặt hai đèn LED lệch nhau. Kết quả, các bạn sẽ thường thấy các encoder có dạng như hình 2:

Đây là dạng encoder phổ biến nhất hiện nay.

5. TÀI LIỆU THAM KHẢO.

TÀI LIỆU TỔNG HỢP - Encoder


6. VIDEO THAM KHẢO:







NGUỒN: Tổng hợp bới EBOOKBKMT.

Chúc các bạn thành công!

M_tả

Hướng dẫn tính toán độ sụt áp trên đường dây dẫn điện theo tiêu chuẩn IEC


Tổng trở của đường dây tuy nhỏ nhưng không thể bỏ qua. Khi mang tải sẽ luôn tồn tại sự sụt áp giữa đầu và cuối đường dây. Vận hành của các tải (như động cơ, chiếu sáng...) phụ thuộc nhiều vào điện áp trên đầu vào của chúng và đòi hỏi giá trị điện áp gần với giá trị định mức. Do vậy cần phải chọn kích cỡ dây sao cho khi mang tải lớn nhất, điện áp tại điểm cuối phải nằm trong phạm vi cho phép.


M_tả

Vì sao động cơ máy bơm một pha cần tụ điện để khởi động và làm việc


Như các bạn đã biết, các loại động cơ 1 pha sử dụng điện áp 220V tại việt nam đều sử dụng tụ điện. Có 2 loại tụ là tụ ngâm (tụ điện làm việc) và tụ đề. 

Tham khảo thêm bài viết - So sánh tụ đề và tụ ngậm 

Để hiểu hơn về vì sao người ta phải sử dụng tụ điện với động cơ 1 pha chúng ta vui lòng xem phân tính rõ hơn ở phần dưới đây.


M_tả

Ống pitot ứng dụng trong đo vận tốc và lưu lượng của dòng chảy


Ống pitot được đặt tên theo kỹ sư người Pháp Henri Pitot, người sử dụng một ống thủy tinh để đo vận tốc dòng chảy của một con sông ở Pháp năm 1700, và được sửa đổi thành kiểu hiện đại như ngày nay bởi nhà khoa học người Pháp Henry Darcy. Ống pitot là thiết bị đơn giản không có bộ phận chuyển động dùng để đo vận tốc dòng chảy, vận tốc không khí trên máy bay, vận tốc nước trên tàu thủy, và vận tốc dòng chất lỏng, dòng khí trên các thiết bị công nghiệp. Ống pitot được dùng để đo vận tốc dòng chảy cục bộ tại một điểm nhất định trong dòng chảy và không đo được vận tốc dòng chảy trung bình trong đường ống hoặc ống dẫn.


M_tả

Ngành nông nghiệp công nghệ cao ứng dụng tự động hóa


Mặc dù khái niệm Nông nghiệp mới hay “nông nghiệp công nghệ cao” (NNCNC) vẫn còn vài tranh cãi, tuy nhiên hầu hết các chuyên gia đều cho rằng NNCNC là một nền nông nghiệp được ứng dụng công nghệ cao để nâng cao năng suất, chất lượng nông sản, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của xã hội và đảm bảo sự phát triển nông nghiệp bền vững.



M_tả

TỔNG HỢP - Sơ đồ mạch điện máy giặt các loại (Full Update)


Những chiếc máy giặt tiên tiến nhất hiện nay được thiết kế theo tiêu chí thân thiện với môi trường, nghĩa là sử dụng càng ít nước và năng lượng càng tốt. Trước khi thực hiện một lần giặt, máy thường tính toán trọng lượng của quần áo và lượng nước cần thiết đủ để làm sạch khối lượng quần áo đó. Càng tiết kiệm được nhiều nước nghĩa là càng giảm thiểu được điện năng dùng đun sôi nước. Mặt khác thùng máy nhẹ sẽ cần ít năng lượng hơn để máy hoạt động. Một số máy còn chú trọng cả tới việc tiết kiệm bột giặt. Khi thùng máy quay, các cánh quạt nhỏ lắp bên trong sẽ nâng cao hiệu quả hoà trộn giữa nước xà phòng và quần áo.


M_tả

Đo khối lượng vật liệu thể rắn dạng hạt với cảm biến Coriolis


Hiệu ứng Coriolis được ứng dụng để tạo ra cảm biến Coriolis đo trực tiếp lưu tốc khối lượng của các hạt/bột liệu. Cảm biến đo khối lượng Coriolis được dùng rộng rãi trong các ứng dụng cấp và định lượng liệu, định lượng và pha trộn liệu, xác định khối lượng liệu nhập/xuất cho các quá trình liên tục cũng như gián đoạn. Cảm biến đo trực tiếp lưu tốc khối lượng Coriolis có độ chính xác cao, hoạt động tin cậy ổn định, lắp đặt đơn giản và bảo trì dễ dàng với chi phí rất thấp.

M_tả

Thủy điện có phải là nguyên nhân chủ yếu làm giảm diện tích rừng Tây Nguyên ?


Khi góp ý về Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (sửa đổi), hồi tháng 6/2017, Đại biểu Ksor Phước Hà (Gia Lai) đã đề nghị "chấm dứt không cho xây thủy điện nữa để bảo vệ rừng". Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, những người làm quản lý cần đánh giá khách quan, và cần phải nhìn nhận thủy điện một cách khoa học. Bởi theo đánh giá của Liên Hợp quốc, chỉ tính trong vòng có 5 năm, các tỉnh Tây Nguyên (của Việt Nam) đã cấp phép đầu tư cho hơn 700 dự án trên đất lâm nghiệp, với tổng diện tích gần 216.000 ha (tức là gấp 11 lần so với tổng diện rừng chuyển đổi sang xây dựng thủy điện trên toàn quốc). 

M_tả

Mối quan hệ giữa điện trở và nhiệt độ trong nhiệt kế điện trở


Nguyên lý.

Nguyên lý chung đo nhiệt độ bằng các điện trở là dựa vào sự biến thiên điện trở suất của vật liệu theo nhiệt độ. Nhiệt độ tăng thì điện trở tăng hoặc nhiệt độ giảm thì điện trở giảm. Ưu điểm của nhiệt kế điện trở là độ chính xác cao, số chỉ ổn định, có thể tự ghi và truyền kết quả đi xa. 


M_tả

Cặp nhiệt điện và phương pháp bù điểm lạnh (điểm tham chiếu)


Trong bài viết này, tôi sẽ giới thiệu khái quát về cặp nhiệt điện (thermocouple) và đặc biệt là điểm lạnh - cold junction (điểm tham chiếu) và các phương pháp bù điểm lạnh khác nhau.
Trong thực tế, có một số người làm việc nhiều với cặp nhiệt nhưng không phải ai cũng đều hiểu rõ cách hoạt động của cặp nhiệt, và đặc biệt là điểm lạnh (mối nối lạnh hay điểm tham chiếu) do đó rất dễ mắc các lỗi trong phép đo cũng như hiệu chuẩn.

M_tả

Cấu tạo và nguyên lý của bút thử điện


Bút thử điện trong trong gia đình là dụng cụ phổ biến để kiểm tra nhanh thiết bị hoặc ổ cắm, phích cắm trong nhà có điện hay không. Để phát hiện nơi con người muốn tới gần đang có điện hay không có điện với bút thử điện hạ thế, người cầm bút cắm trực tiếp vào nơi có thể có điện hạ thế, nếu đèn sáng là có điện và ngược lại.

M_tả

F. Bài viết chuyên ngành Điện tự động hóa (Automation Electrical)