TIÊU CHUẨN QUỐC GIA TCVN 9229-1 : 2012 ISO 10816-1 : 1995 RUNG CƠ HỌC - ĐÁNH GIÁ RUNG ĐỘNG CỦA MÁY BẰNG CÁCH ĐO TRÊN CÁC BỘ PHẬN KHÔNG QUAY - PHẦN 1: HƯỚNG DẪN CHUNG
Mechanical
vibration - Evaluation of machinie vibration by measurements on non-rotating parts
- Part 1: General guidelines
Lời nói đầu
TCVN 9229-1 : 2012 hoàn toàn tương đương với ISO 10816-1 : 1995 và
Amendment 1:2009.
TCVN 9229-1 : 2012 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn Cơ điện - Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn biên soạn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề
nghị, Tổng cục tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công
nghệ công bố.
Bộ tiêu chuẩn TCVN 9229, Rung cơ học - Đánh giá rung động của máy bằng
cách đo trên các bộ phận không quay gồn có năm phần:
- Phần 1: Hướng dẫn chung;
- Phần 2: Nhóm máy phát tuốc bin hơi nước nền đất công suất lớn trên 50
MW;
- Phần 3: Máy công nghiệp công suất danh nghĩa trên 15 kW và tốc độ danh
nghĩa giữa 120 r/min và 15000 r/min khi đo tại hiện trường;
- Phần 4: Nhóm máy tuốc bin động lực khí ga, ngoại trừ có nguồn gốc hàng
không;
- Phần 5: Nhóm máy phát công suất thủy lực và nhà máy bơm.
RUNG
CƠ HỌC - ĐÁNH GIÁ RUNG ĐỘNG CỦA MÁY BẰNG CÁCH ĐO TRÊN CÁC BỘ PHẬN KHÔNG QUAY -
PHẦN 1: HƯỚNG DẪN CHUNG
Mechanical vibration - Evaluation of
machinie vibration by measurements on non-rotating parts - Part 1: General
guidelines
Tiêu chuẩn TCVN 9229-1 : 2012 thiết lập điều kiện chung và quy trình đo
đánh giá độ rung động bằng cách đo trên các bộ phận không quay, ở nơi thích
hợp, các bộ phận không chuyển động qua lại tịnh tiến trên máy hoàn chỉnh. Chuẩn
mực đánh giá chung, thể hiện thông qua độ lớn và sự thay đổi rung động, liên
quan đến giám sát vận hành và thử nghiệm nghiệm thu. Các đánh giá được tiến
hành trước tiên nhằm mục đích đảm bảo độ tin cậy, an toàn, vận hành dài hạn
đồng thời giảm thiểu các hiệu ứng tác động có hại đối với máy/thiết bị liên
quan. Các hướng dẫn được đưa ra dưới dạng cài đặt các giới hạn vận hành trước.
Chuẩn mực đánh giá trong tiêu chuẩn này chỉ liên quan đến rung động do
bản thân máy sinh ra mà không tính đến các rung động truyền dẫn từ bên ngoài
vào.
Phần này của Tiêu chuẩn TCVN 9229: 2012 (ISO 10816) không đề cập đến các
rung động quay xoắn.
Các tài liệu viện dẫn sau là rất cần thiết để áp dụng tiêu chuẩn này.
Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố, chỉ áp dụng phiên bản được nêu.
Đối với tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố, chỉ áp dụng phiên bản mới
nhất, bao gồm cả các sửa đổi bổ sung (nếu có).
ISO 7919-1, Rung cơ học của máy không chuyển động tịnh tiến qua lại -
Phần 1: Hướng dẫn chung (mechanical
vibration of non-reciprocating machines-Measurements on rotaring shafts and
avaluatin criteria - Part 1: General guidelines).
Trong điều khoản này mô tả cách đo, thủ tục và điều kiện vận hành thử
nghiệm được khuyến cáo để đánh giá rung động của máy. Theo đó, cho phép đánh
giá rung động phù hợp với các chuẩn mực và nguyên tác chung quy định trong điều
5.
3.1.1 Dải tần số
Phép đo rung động phải được thực hiện ở dải tần rộng, sao cho bao trùm
phổ tần số rung động của máy.
Dải tần số phụ thuộc vào kiểu máy quan tâm (ví dụ: dải tần số cần thiết
để đánh giá toàn bộ ổ lăn phải bao phủ các tần số cao hơn tần số rung của bản
thân máy với ổ lăn màng lỏng).
Hướng dẫn về dải tần số đo đối với loại máy riêng biệt phải tuân thử
theo các phần tương ứng của bộ tiêu chuẩn TCVN 9229/ISO 10816.
CHÚ THÍCH: Trong quá khứ, rung động khắc nghiệt thường liên quan tới vận
tốc rung dải rộng (mm/s, giá trị hiệu dụng) trong dải tần số từ 10 Hz đến 1000
Hz. Tuy nhiên, có thể áp dụng các dải tần số và các đại lượng đo khác nhau đối
với các kiểu máy khác nhau.
3.1.2 Đại lượng đo
Cho mục đích của phần này của tiêu chuẩn TCVN 9229 (ISO 10816), các đại
lượng sau đây được sử dụng:
a) độ chuyển dịch của rung động, biểu thị bằng mm;
b) vận tốc rung, biểu thị bằng mm/s;
c) gia tốc rung, biểu thị bằng m/s2.
Cách sử dụng, ứng dụng và các giá trị giới hạn của các đại lượng này
được đề cập trong điều 5.
Nhìn chung, không có mối quan hệ đơn giản giữa gia tốc, vận tốc và độ
dịch chuyển cũng như giữa các giá trị đỉnh (o-p), đỉnh - đỉnh (p-p), giá trị
hiệu dụng (r.m.s) và rung động trung bình dải tần rộng. Lý do này được đề cập
vắn tắt trong Phụ lục A, trong đó cũng xác định rõ ràng một số mối quan hệ giữa
các đại lượng trên khi biết được thành phần sóng hài của rung động.
Để tránh nhầm lẫn và đảm bảo sự suy diễn chuẩn xác, trong suốt quá trình
cần phải phân biệt rõ các đơn vị đo (ví dụ: mm (p-p), mm/s (r.m.s.).
3.1.3 Độ lớn rung động
Kết quả đo các đại lượng rung động bằng thiết bị đo phù hợp với quy định
tại điều 4 được gọi là độ lớn rung động tại vị trí và hướng đo xác định.
Thông thường, dựa trên kinh nghiệm, khi đánh giá rung động dải tần rộng
đối với máy quay cần quan tâm trị số vận tốc rung động hiệu dụng, bởi vì có thể
liên quan tới năng lượng rung động. Tuy nhiên, các đại lượng khác như độ dịch
chuyển hay gia tốc và các giá trị đỉnh thay vì giá trị hiệu dụng có thể thích
hợp hơn. Khi đó, cần có chuẩn mực khác, không cần có mối quan hệ đơn giản với
chuẩn mực dựa trên giá trị hiệu dụng.
3.1.4 Rung động khắc nghiệt
Thông thường, các phép đo được thực hiện tại một số vị trí khác nhau
theo hai đến ba hướng, cho bộ số liệu gồm các giá trị đo độ lớn rung động khác
nhau. Giá trị độ lớn dải tần rộng lớn nhất đo được ở tại bệ/giá đỡ máy và điều
kiện vận hành thỏa thuận, được xem là rung động khắc nghiệt.
Đối với hầu hết các loại máy, một giá trị rung động khắc nghiệt sẽ đặc
trưng trạng thái rung động của máy. Tuy nhiên, đối với một số máy cách tiếp cận
này có thể không thích hợp và rung động khắc nghiệt cần được đánh giá độc lập
đối với các vị trí đo tại một số vùng.
Vị trí đo phải được chọn trên ổ lăn, vỏ gối ổ lăn, hay các bộ phận kết
cấu khác phản ánh rõ rệt các lực động học và đặc trưng rung động tổng thể của
máy. Các vị trí đo điển hình cho trong các Hình 1 đến Hình 5.
Để xác định các tác động rung tại mỗi vị trí đo, nhìn chung cần phải đo
theo ba hướng vuông góc tương hỗ (xem Hình 1 đến Hình 5). Thông thường, đòi hỏi
đo theo ba hướng vuông góc đối với thử nghiệm nghiệm thu. Đối với yêu cầu giám
sát rung động, chỉ cần đo một hoặc hai phép đo theo chiều hướng tâm (ví dụ:
phương mặt cắt nằm ngang và/hoặc phương thẳng đứng). Các phép đo này có thể
được bổ sung thêm phép đo rung động theo chiều dọc trục, đáng kể nhất tại vị
trí ổ lăn chịu áp lực, nơi lan truyền trực tiếp lực động đẩy dọc trục.
Quy định chi tiết đối với kiểu máy riêng biệt cho trong các phần bổ sung
tương ứng của tiêu chuẩn TCVN 9229 (ISO 10816).
3.3
Cấu trúc giá đỡ máy đối với thử nghiệm nghiệm thu
3.3.1 Thử nghiệm tại hiện trường
...
TÌNH TRẠNG VĂN BẢN (Update 12.11.2025)
TCVN 9229-1 : 2012: Còn hiệu lực
TCVN 9229-1 : 2012 (Bản Word - Tiếng Việt)
TCVN 9229-1 : 2012 (Bản PDF)
Mechanical
vibration - Evaluation of machinie vibration by measurements on non-rotating parts
- Part 1: General guidelines
Lời nói đầu
TCVN 9229-1 : 2012 hoàn toàn tương đương với ISO 10816-1 : 1995 và
Amendment 1:2009.
TCVN 9229-1 : 2012 do Ban kỹ thuật tiêu chuẩn Cơ điện - Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn biên soạn. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đề
nghị, Tổng cục tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công
nghệ công bố.
Bộ tiêu chuẩn TCVN 9229, Rung cơ học - Đánh giá rung động của máy bằng
cách đo trên các bộ phận không quay gồn có năm phần:
- Phần 1: Hướng dẫn chung;
- Phần 2: Nhóm máy phát tuốc bin hơi nước nền đất công suất lớn trên 50
MW;
- Phần 3: Máy công nghiệp công suất danh nghĩa trên 15 kW và tốc độ danh
nghĩa giữa 120 r/min và 15000 r/min khi đo tại hiện trường;
- Phần 4: Nhóm máy tuốc bin động lực khí ga, ngoại trừ có nguồn gốc hàng
không;
- Phần 5: Nhóm máy phát công suất thủy lực và nhà máy bơm.
RUNG
CƠ HỌC - ĐÁNH GIÁ RUNG ĐỘNG CỦA MÁY BẰNG CÁCH ĐO TRÊN CÁC BỘ PHẬN KHÔNG QUAY -
PHẦN 1: HƯỚNG DẪN CHUNG
Mechanical vibration - Evaluation of
machinie vibration by measurements on non-rotating parts - Part 1: General
guidelines
Tiêu chuẩn TCVN 9229-1 : 2012 thiết lập điều kiện chung và quy trình đo
đánh giá độ rung động bằng cách đo trên các bộ phận không quay, ở nơi thích
hợp, các bộ phận không chuyển động qua lại tịnh tiến trên máy hoàn chỉnh. Chuẩn
mực đánh giá chung, thể hiện thông qua độ lớn và sự thay đổi rung động, liên
quan đến giám sát vận hành và thử nghiệm nghiệm thu. Các đánh giá được tiến
hành trước tiên nhằm mục đích đảm bảo độ tin cậy, an toàn, vận hành dài hạn
đồng thời giảm thiểu các hiệu ứng tác động có hại đối với máy/thiết bị liên
quan. Các hướng dẫn được đưa ra dưới dạng cài đặt các giới hạn vận hành trước.
Chuẩn mực đánh giá trong tiêu chuẩn này chỉ liên quan đến rung động do
bản thân máy sinh ra mà không tính đến các rung động truyền dẫn từ bên ngoài
vào.
Phần này của Tiêu chuẩn TCVN 9229: 2012 (ISO 10816) không đề cập đến các
rung động quay xoắn.
Các tài liệu viện dẫn sau là rất cần thiết để áp dụng tiêu chuẩn này.
Đối với các tài liệu viện dẫn ghi năm công bố, chỉ áp dụng phiên bản được nêu.
Đối với tài liệu viện dẫn không ghi năm công bố, chỉ áp dụng phiên bản mới
nhất, bao gồm cả các sửa đổi bổ sung (nếu có).
ISO 7919-1, Rung cơ học của máy không chuyển động tịnh tiến qua lại -
Phần 1: Hướng dẫn chung (mechanical
vibration of non-reciprocating machines-Measurements on rotaring shafts and
avaluatin criteria - Part 1: General guidelines).
Trong điều khoản này mô tả cách đo, thủ tục và điều kiện vận hành thử
nghiệm được khuyến cáo để đánh giá rung động của máy. Theo đó, cho phép đánh
giá rung động phù hợp với các chuẩn mực và nguyên tác chung quy định trong điều
5.
3.1.1 Dải tần số
Phép đo rung động phải được thực hiện ở dải tần rộng, sao cho bao trùm
phổ tần số rung động của máy.
Dải tần số phụ thuộc vào kiểu máy quan tâm (ví dụ: dải tần số cần thiết
để đánh giá toàn bộ ổ lăn phải bao phủ các tần số cao hơn tần số rung của bản
thân máy với ổ lăn màng lỏng).
Hướng dẫn về dải tần số đo đối với loại máy riêng biệt phải tuân thử
theo các phần tương ứng của bộ tiêu chuẩn TCVN 9229/ISO 10816.
CHÚ THÍCH: Trong quá khứ, rung động khắc nghiệt thường liên quan tới vận
tốc rung dải rộng (mm/s, giá trị hiệu dụng) trong dải tần số từ 10 Hz đến 1000
Hz. Tuy nhiên, có thể áp dụng các dải tần số và các đại lượng đo khác nhau đối
với các kiểu máy khác nhau.
3.1.2 Đại lượng đo
Cho mục đích của phần này của tiêu chuẩn TCVN 9229 (ISO 10816), các đại
lượng sau đây được sử dụng:
a) độ chuyển dịch của rung động, biểu thị bằng mm;
b) vận tốc rung, biểu thị bằng mm/s;
c) gia tốc rung, biểu thị bằng m/s2.
Cách sử dụng, ứng dụng và các giá trị giới hạn của các đại lượng này
được đề cập trong điều 5.
Nhìn chung, không có mối quan hệ đơn giản giữa gia tốc, vận tốc và độ
dịch chuyển cũng như giữa các giá trị đỉnh (o-p), đỉnh - đỉnh (p-p), giá trị
hiệu dụng (r.m.s) và rung động trung bình dải tần rộng. Lý do này được đề cập
vắn tắt trong Phụ lục A, trong đó cũng xác định rõ ràng một số mối quan hệ giữa
các đại lượng trên khi biết được thành phần sóng hài của rung động.
Để tránh nhầm lẫn và đảm bảo sự suy diễn chuẩn xác, trong suốt quá trình
cần phải phân biệt rõ các đơn vị đo (ví dụ: mm (p-p), mm/s (r.m.s.).
3.1.3 Độ lớn rung động
Kết quả đo các đại lượng rung động bằng thiết bị đo phù hợp với quy định
tại điều 4 được gọi là độ lớn rung động tại vị trí và hướng đo xác định.
Thông thường, dựa trên kinh nghiệm, khi đánh giá rung động dải tần rộng
đối với máy quay cần quan tâm trị số vận tốc rung động hiệu dụng, bởi vì có thể
liên quan tới năng lượng rung động. Tuy nhiên, các đại lượng khác như độ dịch
chuyển hay gia tốc và các giá trị đỉnh thay vì giá trị hiệu dụng có thể thích
hợp hơn. Khi đó, cần có chuẩn mực khác, không cần có mối quan hệ đơn giản với
chuẩn mực dựa trên giá trị hiệu dụng.
3.1.4 Rung động khắc nghiệt
Thông thường, các phép đo được thực hiện tại một số vị trí khác nhau
theo hai đến ba hướng, cho bộ số liệu gồm các giá trị đo độ lớn rung động khác
nhau. Giá trị độ lớn dải tần rộng lớn nhất đo được ở tại bệ/giá đỡ máy và điều
kiện vận hành thỏa thuận, được xem là rung động khắc nghiệt.
Đối với hầu hết các loại máy, một giá trị rung động khắc nghiệt sẽ đặc
trưng trạng thái rung động của máy. Tuy nhiên, đối với một số máy cách tiếp cận
này có thể không thích hợp và rung động khắc nghiệt cần được đánh giá độc lập
đối với các vị trí đo tại một số vùng.
Vị trí đo phải được chọn trên ổ lăn, vỏ gối ổ lăn, hay các bộ phận kết
cấu khác phản ánh rõ rệt các lực động học và đặc trưng rung động tổng thể của
máy. Các vị trí đo điển hình cho trong các Hình 1 đến Hình 5.
Để xác định các tác động rung tại mỗi vị trí đo, nhìn chung cần phải đo
theo ba hướng vuông góc tương hỗ (xem Hình 1 đến Hình 5). Thông thường, đòi hỏi
đo theo ba hướng vuông góc đối với thử nghiệm nghiệm thu. Đối với yêu cầu giám
sát rung động, chỉ cần đo một hoặc hai phép đo theo chiều hướng tâm (ví dụ:
phương mặt cắt nằm ngang và/hoặc phương thẳng đứng). Các phép đo này có thể
được bổ sung thêm phép đo rung động theo chiều dọc trục, đáng kể nhất tại vị
trí ổ lăn chịu áp lực, nơi lan truyền trực tiếp lực động đẩy dọc trục.
Quy định chi tiết đối với kiểu máy riêng biệt cho trong các phần bổ sung
tương ứng của tiêu chuẩn TCVN 9229 (ISO 10816).
3.3
Cấu trúc giá đỡ máy đối với thử nghiệm nghiệm thu
3.3.1 Thử nghiệm tại hiện trường
...
TÌNH TRẠNG VĂN BẢN (Update 12.11.2025)
TCVN 9229-1 : 2012: Còn hiệu lực
TCVN 9229-1 : 2012 (Bản Word - Tiếng Việt)
TCVN 9229-1 : 2012 (Bản PDF)


.png)
%20(1).png)
.png)
.png)

.png)


Không có nhận xét nào: