NGHỊ ĐỊNH 53/2022/NĐ-CP - QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT AN NINH MẠNG (Full Tiếng Anh + Tiếng Việt)
|
CHÍNH
PHỦ |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
53/2022/NĐ-CP |
Hà
Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2022 |
QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA
LUẬT AN NINH MẠNG
Căn
cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm
2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11
năm 2019;
Căn cứ Luật An ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn
cứ Luật An ninh mạng ngày 12 tháng 6 năm
2018;
Căn
cứ Luật An toàn thông tin mạng ngày 19 tháng
11 năm 2015;
Theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an;
Chính
phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng.
Nghị
định này quy định chi tiết điểm a, b, c, d, đ, g, i, k, l khoản
1 Điều 5, khoản 4 Điều 10, khoản 5 Điều 12, khoản 1 Điều 23,
khoản 7 Điều 24, khoản 2, 4 Điều 26, khoản 5 Điều 36 Luật An ninh mạng, gồm
các nội dung sau:
1. Các
biện pháp bảo vệ an ninh mạng: thẩm định an ninh mạng; đánh giá điều kiện an
ninh mạng; kiểm tra an ninh mạng; giám sát an ninh mạng; ứng phó, khắc phục sự
cố an ninh mạng; sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng; yêu cầu xóa bỏ thông
tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân; thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu
ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền.
2. Căn
cứ, trình tự, thủ tục xác lập và công tác phối hợp giữa các bộ, ngành chức năng
có liên quan trong thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục
sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
3. Điều
kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
4. Nội
dung triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng trong cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị ở trung ương và địa phương.
5. Trình
tự, thủ tục kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia theo các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 24.
6. Việc
lưu trữ dữ liệu và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với
các doanh nghiệp được quy định tại khoản 3 Điều 26.
7. Việc
phân công, phối hợp thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, phòng ngừa, xử
lý hành vi xâm phạm an ninh mạng trong trường hợp nội dung quản lý nhà nước
liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành.
Trong
Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Dữ
liệu về thông tin cá nhân là dữ liệu về thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết,
chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự để xác định danh tính một cá
nhân.
2. Người
sử dụng dịch vụ là tổ chức, cá nhân tham gia sử dụng dịch vụ trên không gian
mạng.
3. Người
sử dụng dịch vụ tại Việt Nam là tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng trên
lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Dữ
liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ là dữ liệu về thông tin dưới dạng
ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự phản ánh, xác
định mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ với người khác trên không gian mạng.
5. Dữ
liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra là dữ liệu về thông tin dưới
dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự phản ánh
quá trình tham gia, hoạt động, sử dụng không gian mạng của người sử dụng dịch
vụ và các thông tin về thiết bị, dịch vụ mạng sử dụng để kết nối với không gian
mạng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
6. Dịch
vụ trên mạng viễn thông là dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông theo
quy định của pháp luật.
7. Dịch
vụ trên mạng Internet là dịch vụ Internet và dịch vụ cung cấp nội dung trên nền
internet theo quy định của pháp luật.
8. Dịch
vụ gia tăng trên không gian mạng là dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng theo
quy định của pháp luật.
9. Lực
lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng bao gồm:
a) Cục
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an;
b) Cục
Bảo vệ an ninh Quân đội, Tổng cục Chính trị và Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian
mạng thuộc Bộ Quốc phòng.
10. Chủ
quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền quản lý trực tiếp đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia, gồm những trường hợp sau:
a) Bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
b) Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
c) Các
tổ chức chính trị ở Trung ương;
d) Cấp
có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án xây dựng, thiết lập, nâng cấp, mở rộng hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
11.
Doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập
theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam.
12.
Doanh nghiệp nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập
theo pháp luật nước ngoài.
Mục 1. XÁC LẬP DANH MỤC HỆ THỐNG THÔNG TIN QUAN TRỌNG VỀ AN
NINH QUỐC GIA
Điều 3. Căn cứ xác lập hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia
Hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là hệ thống thông tin của cơ quan nhà
nước và tổ chức chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm:
1. Hệ
thống thông tin quan trọng quốc gia theo quy định của Luật An toàn thông tin mạng.
2. Hệ
thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của các công trình quan trọng liên
quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
3. Hệ
thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành, điều khiển hoạt động của công trình
viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp
luật.
4. Hệ thống thông tin thuộc các lĩnh vực được quy định tại
khoản 2 Điều 10 Luật An ninh mạng khi
bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ,
tê liệt, tấn công hoặc phá hoại sẽ gây ra một trong các hậu quả sau đây:
a) Trực
tiếp tác động đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, sự tồn tại của chế độ và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại làm suy yếu
khả năng phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc;
c) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân;
d) Gây
thảm họa đối với đời sống con người, môi trường sinh thái;
đ) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động của công trình xây dựng cấp đặc biệt theo
phân cấp của pháp luật về xây dựng;
e) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động hoạch định chủ trương, chính sách thuộc phạm
vi bí mật nhà nước;
g) Ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của các cơ quan Đảng, Nhà
nước ở trung ương.
1. Chủ
quản hệ thống thông tin có trách nhiệm rà soát, đối chiếu với quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định này, lập hồ sơ đề nghị đưa hệ thống
thông tin thuộc thẩm quyền quản lý của mình vào Danh mục hệ thống thông tin
quan trọng về an ninh quốc gia.
2. Đối
với hệ thống thông tin thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng quốc gia:
a) Bộ
Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm gửi Bộ Công an hồ sơ hệ thống thông
tin quan trọng quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để xác lập Danh
mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
b) Trong
trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, chủ quản hệ thống thông tin
quan trọng quốc gia không phải lập hồ sơ đề nghị đưa hệ thống vào Danh mục hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
c) Bộ
Công an có trách nhiệm đưa những hệ thống thông tin quan trọng quốc gia vào
Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo trình tự, thủ
tục quy định; thông báo cho chủ quản các hệ thống thông tin này về việc hệ
thống thông tin được đưa vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia và thực hiện các trách nhiệm tương ứng.
3. Trường
hợp hệ thống thông tin trong quá trình thẩm định về cấp độ an toàn thông tin mà
xét thấy có đủ căn cứ để đưa vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Bộ
Công an để thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
4. Lực
lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao rà
soát các hệ thống thông tin có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều
3 Nghị định này và yêu cầu chủ quản hệ thống thông tin lập hồ sơ đề nghị
đưa hệ thống thông tin thuộc thẩm quyền quản lý của mình vào Danh mục hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
5. Hồ sơ
đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia:
a) Văn
bản đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng
về an ninh quốc gia (Mẫu số 01 Phụ lục);
b) Văn
bản cung cấp danh mục toàn bộ hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức (Mẫu số
02 Phụ lục);
c) Tài
liệu chứng minh kèm theo, gồm: Tài liệu mô tả, thuyết minh tổng quan về hệ
thống thông tin; tài liệu thiết kế thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
hoặc tài liệu có giá trị tương đương; tài liệu chứng minh sự phù hợp với căn cứ
đề xuất đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia; tài liệu thuyết minh phương án bảo vệ hệ thống thông tin (phương
án bảo đảm an toàn hạ tầng mạng; an toàn máy chủ; an toàn ứng dụng; an toàn cơ
sở dữ liệu; chính sách quản lý; tổ chức, nhân sự; quản lý thiết kế, xây dựng;
quản lý vận hành; kiểm tra, đánh giá và quản lý rủi ro).
6. Hồ sơ
đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia được lập thành 01 bản chính, gửi về:
a) Cục
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an,
trừ quy định tại điểm b và điểm c khoản này;
b) Bộ Tư
lệnh Tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng đối với các hệ thống thông
tin quân sự.
c) Ban
Cơ yếu Chính phủ đối với các hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính
phủ.
7. Cơ
quan tiếp nhận hồ sơ tại khoản 6 Điều này có trách nhiệm phản hồi ý kiến bằng
văn bản về hồ sơ đã tiếp nhận (Mẫu số 03 Phụ lục).
1. Cục
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an
thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin
quan trọng về an ninh quốc gia theo quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này.
2. Bộ Tư
lệnh Tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng hướng dẫn lập hồ sơ, tiếp
nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin quân sự vào Danh mục hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
3. Ban
Cơ yếu Chính phủ thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin cơ yếu thuộc
Ban Cơ yếu Chính phủ vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc
gia.
4. Hội
đồng thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông
tin quan trọng về an ninh quốc gia:
a) Đối
với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia có liên quan tới nhiều
ngành, lĩnh vực hoặc việc thẩm định cần có ý kiến của nhiều bộ, ngành chức
năng;
b) Hội
đồng thẩm định làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, tự giải thể khi hoàn thành
nhiệm vụ. Căn cứ tính chất, vai trò của hệ thống thông tin, thành viên Hội đồng
thẩm định có thể bao gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền
thông, Ban Cơ yếu Chính phủ và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Tùy từng
trường hợp cụ thể, Hội đồng thẩm định mời chủ quản hệ thống thông tin tham dự
họp thẩm định;
c) Hội
đồng thẩm định có trách nhiệm thẩm định cấp độ an toàn hệ thống thông tin và hồ
sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về
an ninh quốc gia.
5. Kết
quả họp Hội đồng thẩm định được sử dụng chung phục vụ công tác an ninh mạng, an
toàn thông tin mạng.
6.
Trường hợp cần xác thực thông tin trong hồ sơ và hiện trạng thực tế của hệ
thống thông tin được nêu trong hồ sơ, cơ quan thẩm định quy định tại khoản 1,
khoản 2, khoản 3 Điều này tổ chức khảo sát, kiểm tra thực tế để thẩm định đề
nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia. Thời gian khảo sát, kiểm tra thực tế không quá 20 ngày.
Kết quả
khảo sát được lập thành biên bản có xác nhận của cơ quan thẩm định và chủ quản
hệ thống thông tin.
7. Chủ
quản hệ thống thông tin có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện cho công tác
thẩm định, khảo sát, kiểm tra và bổ sung hồ sơ theo đề nghị của cơ quan thẩm
định.
8. Thời
gian, trình tự thẩm định hồ sơ:
a) Thời
gian thẩm định hồ sơ là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị đưa hệ
thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
hoặc kết thúc quá trình khảo sát theo quy định tại khoản 6 Điều này;
b) Thời
gian xác nhận hồ sơ hợp lệ là 03 ngày làm việc sau khi nhận đủ hồ sơ đề nghị
đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia;
c) Kết
thúc thời gian thẩm định, cơ quan thẩm định hoàn tất hồ sơ đề xuất Bộ trưởng Bộ
Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, cập nhật
quyết định theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, có văn bản thông báo
kết quả thẩm định cho chủ quản hệ thống thông tin (Mẫu số 04 Phụ lục);
d) Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định gia hạn thời gian thẩm
định. Thời gian gia hạn không quá 20 ngày.
9. Bộ
Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ thống nhất cơ
chế trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định xác lập, cập nhật Danh mục hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Điều 6. Đưa hệ thống thông tin ra khỏi danh mục hệ thống thông
tin quan trọng về an ninh quốc gia
1. Khi
xét thấy hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia do mình quản lý
không còn đáp ứng căn cứ quy định tại Điều 3 Nghị định này,
chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia lập hồ sơ đề nghị
đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia.
2. Hằng
năm, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng căn cứ chức năng, nhiệm vụ rà
soát các hệ thống thông tin không còn tiêu chí phù hợp với quy định tại Điều 3 Nghị định này và yêu cầu chủ quản hệ thống thông tin lập
hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin thuộc thẩm quyền quản lý ra khỏi Danh mục
hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
3. Hồ sơ
đề nghị đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan trọng
về an ninh quốc gia, bao gồm:
a) Văn
bản đề nghị đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan
trọng về an ninh quốc gia (Mẫu số 05 Phụ lục);
b) Văn
bản, tài liệu cần thiết khác có liên quan trực tiếp đến việc đề nghị đưa hệ
thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc
gia.
4. Trình
tự, thủ tục, thẩm quyền xem xét, quyết định đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh
mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được áp dụng theo quy
định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền xem xét, quyết định đưa hệ thống thông
tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
1. Việc
bảo vệ an ninh mạng, an toàn thông tin mạng đối với hệ thống thông tin quan
trọng về an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về an ninh
mạng, an toàn thông tin mạng.
2.
Nguyên tắc phối hợp
a) Áp
dụng quy định của pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin mạng đối với thẩm
định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục sự cố đối với hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
b)
Trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều bên liên quan, Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ căn cứ Luật An ninh
mạng chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, các bộ, ngành có
liên quan tổ chức thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục
sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
theo chức năng, nhiệm vụ được giao;
c) Quá
trình phối hợp bảo đảm tuân thủ quy định của các điều ước quốc tế và các quy
định của tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia, Luật
An ninh mạng và pháp luật có liên quan, chủ động, thường xuyên, kịp thời và
đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
3.
Phương thức phối hợp
a) Bộ
Công an gửi văn bản đề nghị các bộ, ngành có liên quan cử thành viên tham gia
thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng
đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
b) Các
bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm cử thành viên tham gia đầy đủ các hoạt
động trong quá trình thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc
phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc
gia theo nội dung đề nghị;
c) Hồ
sơ, văn bản tài liệu phục vụ thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó,
khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia được Bộ Công an sao gửi tới thành viên tham gia theo quy định.
4. Việc
phối hợp giám sát đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
phục vụ công tác bảo vệ an ninh mạng, an toàn thông tin mạng:
a) Các
lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có trách nhiệm chia sẻ với nhau và
với Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông về dữ liệu giám sát an
ninh mạng, an toàn thông tin mạng phục vụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ được
giao;
b)
Trường hợp đã thực hiện giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống thông
tin quan trọng về an ninh quốc gia, dữ liệu giám sát được chia sẻ, dùng chung
phục vụ công tác bảo vệ an ninh mạng, an toàn thông tin mạng;
c) Chủ
quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia có trách nhiệm bố trí
mặt bằng, điều kiện kỹ thuật, thiết lập, kết nối hệ thống, thiết bị giám sát
của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng vào hệ thống thông tin do mình
quản lý nhằm phát hiện, cảnh báo sớm nguy cơ an ninh mạng.
...
TÌNH TRẠNG VĂN BẢN (Update 11.10.2023)
53/2022/NĐ-CP: Còn hiệu lực
LINK 3 - TÌM KIẾM SÁCH/TÀI LIỆU ONLINE (GIÁ ƯU ĐÃI NHẤT)
LINK 4 - TÌM KIẾM SÁCH/TÀI LIỆU ONLINE (GIÁ ƯU ĐÃI NHẤT)
53/2022/NĐ-CP (BẢN PDF)
53/2022/NĐ-CP (BẢN GỐC - PDF)
53/2022/NĐ-CP (BẢN WORD - TIẾNG VIỆT)
53/2022/NĐ-CP (BẢN WORD - TIẾNG ANH)
|
CHÍNH
PHỦ |
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số:
53/2022/NĐ-CP |
Hà
Nội, ngày 15 tháng 8 năm 2022 |
QUY ĐỊNH CHI TIẾT MỘT SỐ ĐIỀU CỦA
LUẬT AN NINH MẠNG
Căn
cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 19 tháng 6 năm
2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 22 tháng 11
năm 2019;
Căn cứ Luật An ninh quốc gia ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn
cứ Luật An ninh mạng ngày 12 tháng 6 năm
2018;
Căn
cứ Luật An toàn thông tin mạng ngày 19 tháng
11 năm 2015;
Theo
đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công an;
Chính
phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật An ninh mạng.
Nghị
định này quy định chi tiết điểm a, b, c, d, đ, g, i, k, l khoản
1 Điều 5, khoản 4 Điều 10, khoản 5 Điều 12, khoản 1 Điều 23,
khoản 7 Điều 24, khoản 2, 4 Điều 26, khoản 5 Điều 36 Luật An ninh mạng, gồm
các nội dung sau:
1. Các
biện pháp bảo vệ an ninh mạng: thẩm định an ninh mạng; đánh giá điều kiện an
ninh mạng; kiểm tra an ninh mạng; giám sát an ninh mạng; ứng phó, khắc phục sự
cố an ninh mạng; sử dụng mật mã để bảo vệ thông tin mạng; yêu cầu xóa bỏ thông
tin trái pháp luật hoặc thông tin sai sự thật trên không gian mạng xâm phạm an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân; thu thập dữ liệu điện tử liên quan đến hoạt động xâm phạm an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan,
tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; đình chỉ, tạm đình chỉ hoặc yêu cầu
ngừng hoạt động của hệ thống thông tin, thu hồi tên miền.
2. Căn
cứ, trình tự, thủ tục xác lập và công tác phối hợp giữa các bộ, ngành chức năng
có liên quan trong thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục
sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
3. Điều
kiện an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
4. Nội
dung triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng trong cơ quan nhà nước, tổ chức
chính trị ở trung ương và địa phương.
5. Trình
tự, thủ tục kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của cơ quan, tổ
chức, cá nhân không thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia theo các trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 24.
6. Việc
lưu trữ dữ liệu và đặt chi nhánh hoặc văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với
các doanh nghiệp được quy định tại khoản 3 Điều 26.
7. Việc
phân công, phối hợp thực hiện các biện pháp bảo vệ an ninh mạng, phòng ngừa, xử
lý hành vi xâm phạm an ninh mạng trong trường hợp nội dung quản lý nhà nước
liên quan đến phạm vi quản lý của nhiều bộ, ngành.
Trong
Nghị định này, các từ ngữ dưới đây được hiểu như sau:
1. Dữ
liệu về thông tin cá nhân là dữ liệu về thông tin dưới dạng ký hiệu, chữ viết,
chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự để xác định danh tính một cá
nhân.
2. Người
sử dụng dịch vụ là tổ chức, cá nhân tham gia sử dụng dịch vụ trên không gian
mạng.
3. Người
sử dụng dịch vụ tại Việt Nam là tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng trên
lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
4. Dữ
liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ là dữ liệu về thông tin dưới dạng
ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự phản ánh, xác
định mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ với người khác trên không gian mạng.
5. Dữ
liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra là dữ liệu về thông tin dưới
dạng ký hiệu, chữ viết, chữ số, hình ảnh, âm thanh hoặc dạng tương tự phản ánh
quá trình tham gia, hoạt động, sử dụng không gian mạng của người sử dụng dịch
vụ và các thông tin về thiết bị, dịch vụ mạng sử dụng để kết nối với không gian
mạng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
6. Dịch
vụ trên mạng viễn thông là dịch vụ viễn thông, dịch vụ ứng dụng viễn thông theo
quy định của pháp luật.
7. Dịch
vụ trên mạng Internet là dịch vụ Internet và dịch vụ cung cấp nội dung trên nền
internet theo quy định của pháp luật.
8. Dịch
vụ gia tăng trên không gian mạng là dịch vụ viễn thông giá trị gia tăng theo
quy định của pháp luật.
9. Lực
lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng bao gồm:
a) Cục
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an;
b) Cục
Bảo vệ an ninh Quân đội, Tổng cục Chính trị và Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian
mạng thuộc Bộ Quốc phòng.
10. Chủ
quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền quản lý trực tiếp đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia, gồm những trường hợp sau:
a) Bộ,
cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ;
b) Ủy
ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
c) Các
tổ chức chính trị ở Trung ương;
d) Cấp
có thẩm quyền quyết định đầu tư dự án xây dựng, thiết lập, nâng cấp, mở rộng hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
11.
Doanh nghiệp trong nước là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập
theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam.
12.
Doanh nghiệp nước ngoài là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập
theo pháp luật nước ngoài.
Mục 1. XÁC LẬP DANH MỤC HỆ THỐNG THÔNG TIN QUAN TRỌNG VỀ AN
NINH QUỐC GIA
Điều 3. Căn cứ xác lập hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia
Hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là hệ thống thông tin của cơ quan nhà
nước và tổ chức chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bao gồm:
1. Hệ
thống thông tin quan trọng quốc gia theo quy định của Luật An toàn thông tin mạng.
2. Hệ
thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành của các công trình quan trọng liên
quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp luật.
3. Hệ
thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành, điều khiển hoạt động của công trình
viễn thông quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia theo quy định của pháp
luật.
4. Hệ thống thông tin thuộc các lĩnh vực được quy định tại
khoản 2 Điều 10 Luật An ninh mạng khi
bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ,
tê liệt, tấn công hoặc phá hoại sẽ gây ra một trong các hậu quả sau đây:
a) Trực
tiếp tác động đến độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ
quốc, sự tồn tại của chế độ và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;
b) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, đối ngoại làm suy yếu
khả năng phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc;
c) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến nền kinh tế quốc dân;
d) Gây
thảm họa đối với đời sống con người, môi trường sinh thái;
đ) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động của công trình xây dựng cấp đặc biệt theo
phân cấp của pháp luật về xây dựng;
e) Gây
hậu quả nghiêm trọng đến hoạt động hoạch định chủ trương, chính sách thuộc phạm
vi bí mật nhà nước;
g) Ảnh
hưởng nghiêm trọng đến sự chỉ đạo điều hành trực tiếp của các cơ quan Đảng, Nhà
nước ở trung ương.
1. Chủ
quản hệ thống thông tin có trách nhiệm rà soát, đối chiếu với quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định này, lập hồ sơ đề nghị đưa hệ thống
thông tin thuộc thẩm quyền quản lý của mình vào Danh mục hệ thống thông tin
quan trọng về an ninh quốc gia.
2. Đối
với hệ thống thông tin thuộc Danh mục hệ thống thông tin quan trọng quốc gia:
a) Bộ
Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm gửi Bộ Công an hồ sơ hệ thống thông
tin quan trọng quốc gia đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt để xác lập Danh
mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
b) Trong
trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều này, chủ quản hệ thống thông tin
quan trọng quốc gia không phải lập hồ sơ đề nghị đưa hệ thống vào Danh mục hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
c) Bộ
Công an có trách nhiệm đưa những hệ thống thông tin quan trọng quốc gia vào
Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia theo trình tự, thủ
tục quy định; thông báo cho chủ quản các hệ thống thông tin này về việc hệ
thống thông tin được đưa vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia và thực hiện các trách nhiệm tương ứng.
3. Trường
hợp hệ thống thông tin trong quá trình thẩm định về cấp độ an toàn thông tin mà
xét thấy có đủ căn cứ để đưa vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia, Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chuyển hồ sơ cho Bộ
Công an để thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
4. Lực
lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao rà
soát các hệ thống thông tin có căn cứ phù hợp với quy định tại Điều
3 Nghị định này và yêu cầu chủ quản hệ thống thông tin lập hồ sơ đề nghị
đưa hệ thống thông tin thuộc thẩm quyền quản lý của mình vào Danh mục hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
5. Hồ sơ
đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia:
a) Văn
bản đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng
về an ninh quốc gia (Mẫu số 01 Phụ lục);
b) Văn
bản cung cấp danh mục toàn bộ hệ thống thông tin của cơ quan, tổ chức (Mẫu số
02 Phụ lục);
c) Tài
liệu chứng minh kèm theo, gồm: Tài liệu mô tả, thuyết minh tổng quan về hệ
thống thông tin; tài liệu thiết kế thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt
hoặc tài liệu có giá trị tương đương; tài liệu chứng minh sự phù hợp với căn cứ
đề xuất đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia; tài liệu thuyết minh phương án bảo vệ hệ thống thông tin (phương
án bảo đảm an toàn hạ tầng mạng; an toàn máy chủ; an toàn ứng dụng; an toàn cơ
sở dữ liệu; chính sách quản lý; tổ chức, nhân sự; quản lý thiết kế, xây dựng;
quản lý vận hành; kiểm tra, đánh giá và quản lý rủi ro).
6. Hồ sơ
đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia được lập thành 01 bản chính, gửi về:
a) Cục
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an,
trừ quy định tại điểm b và điểm c khoản này;
b) Bộ Tư
lệnh Tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng đối với các hệ thống thông
tin quân sự.
c) Ban
Cơ yếu Chính phủ đối với các hệ thống thông tin cơ yếu thuộc Ban Cơ yếu Chính
phủ.
7. Cơ
quan tiếp nhận hồ sơ tại khoản 6 Điều này có trách nhiệm phản hồi ý kiến bằng
văn bản về hồ sơ đã tiếp nhận (Mẫu số 03 Phụ lục).
1. Cục
An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao thuộc Bộ Công an
thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin
quan trọng về an ninh quốc gia theo quy định, trừ trường hợp quy định tại khoản
2 và khoản 3 Điều này.
2. Bộ Tư
lệnh Tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng hướng dẫn lập hồ sơ, tiếp
nhận và thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin quân sự vào Danh mục hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
3. Ban
Cơ yếu Chính phủ thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin cơ yếu thuộc
Ban Cơ yếu Chính phủ vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc
gia.
4. Hội
đồng thẩm định hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông
tin quan trọng về an ninh quốc gia:
a) Đối
với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia có liên quan tới nhiều
ngành, lĩnh vực hoặc việc thẩm định cần có ý kiến của nhiều bộ, ngành chức
năng;
b) Hội
đồng thẩm định làm việc theo chế độ kiêm nhiệm, tự giải thể khi hoàn thành
nhiệm vụ. Căn cứ tính chất, vai trò của hệ thống thông tin, thành viên Hội đồng
thẩm định có thể bao gồm Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Thông tin và Truyền
thông, Ban Cơ yếu Chính phủ và các cơ quan, đơn vị có liên quan. Tùy từng
trường hợp cụ thể, Hội đồng thẩm định mời chủ quản hệ thống thông tin tham dự
họp thẩm định;
c) Hội
đồng thẩm định có trách nhiệm thẩm định cấp độ an toàn hệ thống thông tin và hồ
sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về
an ninh quốc gia.
5. Kết
quả họp Hội đồng thẩm định được sử dụng chung phục vụ công tác an ninh mạng, an
toàn thông tin mạng.
6.
Trường hợp cần xác thực thông tin trong hồ sơ và hiện trạng thực tế của hệ
thống thông tin được nêu trong hồ sơ, cơ quan thẩm định quy định tại khoản 1,
khoản 2, khoản 3 Điều này tổ chức khảo sát, kiểm tra thực tế để thẩm định đề
nghị đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia. Thời gian khảo sát, kiểm tra thực tế không quá 20 ngày.
Kết quả
khảo sát được lập thành biên bản có xác nhận của cơ quan thẩm định và chủ quản
hệ thống thông tin.
7. Chủ
quản hệ thống thông tin có trách nhiệm phối hợp, tạo điều kiện cho công tác
thẩm định, khảo sát, kiểm tra và bổ sung hồ sơ theo đề nghị của cơ quan thẩm
định.
8. Thời
gian, trình tự thẩm định hồ sơ:
a) Thời
gian thẩm định hồ sơ là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị đưa hệ
thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
hoặc kết thúc quá trình khảo sát theo quy định tại khoản 6 Điều này;
b) Thời
gian xác nhận hồ sơ hợp lệ là 03 ngày làm việc sau khi nhận đủ hồ sơ đề nghị
đưa hệ thống thông tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia;
c) Kết
thúc thời gian thẩm định, cơ quan thẩm định hoàn tất hồ sơ đề xuất Bộ trưởng Bộ
Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trình Thủ tướng Chính phủ ban hành, cập nhật
quyết định theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Đồng thời, có văn bản thông báo
kết quả thẩm định cho chủ quản hệ thống thông tin (Mẫu số 04 Phụ lục);
d) Bộ
trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng quyết định gia hạn thời gian thẩm
định. Thời gian gia hạn không quá 20 ngày.
9. Bộ
Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Quốc phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ thống nhất cơ
chế trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định xác lập, cập nhật Danh mục hệ
thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
Điều 6. Đưa hệ thống thông tin ra khỏi danh mục hệ thống thông
tin quan trọng về an ninh quốc gia
1. Khi
xét thấy hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia do mình quản lý
không còn đáp ứng căn cứ quy định tại Điều 3 Nghị định này,
chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia lập hồ sơ đề nghị
đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an
ninh quốc gia.
2. Hằng
năm, lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng căn cứ chức năng, nhiệm vụ rà
soát các hệ thống thông tin không còn tiêu chí phù hợp với quy định tại Điều 3 Nghị định này và yêu cầu chủ quản hệ thống thông tin lập
hồ sơ đề nghị đưa hệ thống thông tin thuộc thẩm quyền quản lý ra khỏi Danh mục
hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
3. Hồ sơ
đề nghị đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan trọng
về an ninh quốc gia, bao gồm:
a) Văn
bản đề nghị đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan
trọng về an ninh quốc gia (Mẫu số 05 Phụ lục);
b) Văn
bản, tài liệu cần thiết khác có liên quan trực tiếp đến việc đề nghị đưa hệ
thống thông tin ra khỏi Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc
gia.
4. Trình
tự, thủ tục, thẩm quyền xem xét, quyết định đưa hệ thống thông tin ra khỏi Danh
mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia được áp dụng theo quy
định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền xem xét, quyết định đưa hệ thống thông
tin vào Danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.
1. Việc
bảo vệ an ninh mạng, an toàn thông tin mạng đối với hệ thống thông tin quan
trọng về an ninh quốc gia được thực hiện theo quy định của pháp luật về an ninh
mạng, an toàn thông tin mạng.
2.
Nguyên tắc phối hợp
a) Áp
dụng quy định của pháp luật về an ninh mạng, an toàn thông tin mạng đối với thẩm
định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục sự cố đối với hệ thống
thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
b)
Trường hợp cần có sự phối hợp của nhiều bên liên quan, Bộ Công an, Bộ Quốc
phòng, Ban Cơ yếu Chính phủ căn cứ Luật An ninh
mạng chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông, các bộ, ngành có
liên quan tổ chức thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục
sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
theo chức năng, nhiệm vụ được giao;
c) Quá
trình phối hợp bảo đảm tuân thủ quy định của các điều ước quốc tế và các quy
định của tổ chức quốc tế mà Việt Nam tham gia, Luật
An ninh mạng và pháp luật có liên quan, chủ động, thường xuyên, kịp thời và
đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
3.
Phương thức phối hợp
a) Bộ
Công an gửi văn bản đề nghị các bộ, ngành có liên quan cử thành viên tham gia
thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng
đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia;
b) Các
bộ, ngành có liên quan có trách nhiệm cử thành viên tham gia đầy đủ các hoạt
động trong quá trình thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó, khắc
phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc
gia theo nội dung đề nghị;
c) Hồ
sơ, văn bản tài liệu phục vụ thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát, ứng phó,
khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh
quốc gia được Bộ Công an sao gửi tới thành viên tham gia theo quy định.
4. Việc
phối hợp giám sát đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia
phục vụ công tác bảo vệ an ninh mạng, an toàn thông tin mạng:
a) Các
lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng có trách nhiệm chia sẻ với nhau và
với Cục An toàn thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông về dữ liệu giám sát an
ninh mạng, an toàn thông tin mạng phục vụ thực hiện chức năng, nhiệm vụ được
giao;
b)
Trường hợp đã thực hiện giám sát an toàn thông tin mạng đối với hệ thống thông
tin quan trọng về an ninh quốc gia, dữ liệu giám sát được chia sẻ, dùng chung
phục vụ công tác bảo vệ an ninh mạng, an toàn thông tin mạng;
c) Chủ
quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia có trách nhiệm bố trí
mặt bằng, điều kiện kỹ thuật, thiết lập, kết nối hệ thống, thiết bị giám sát
của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng vào hệ thống thông tin do mình
quản lý nhằm phát hiện, cảnh báo sớm nguy cơ an ninh mạng.
...
TÌNH TRẠNG VĂN BẢN (Update 11.10.2023)
53/2022/NĐ-CP: Còn hiệu lực
LINK 3 - TÌM KIẾM SÁCH/TÀI LIỆU ONLINE (GIÁ ƯU ĐÃI NHẤT)
LINK 4 - TÌM KIẾM SÁCH/TÀI LIỆU ONLINE (GIÁ ƯU ĐÃI NHẤT)
53/2022/NĐ-CP (BẢN PDF)
53/2022/NĐ-CP (BẢN GỐC - PDF)
53/2022/NĐ-CP (BẢN WORD - TIẾNG VIỆT)
53/2022/NĐ-CP (BẢN WORD - TIẾNG ANH)


.png)
%20(1).png)
.png)
.png)
.png)
%20(1).png)


Không có nhận xét nào: