QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg VỀ VIỆC PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN "DẠY VÀ HỌC NGOẠI NGỮ TRONG HỆ THỐNG GIÁO DỤC QUỐC DÂN GIAI ĐOẠN 2008 - 2020" (Full)
|
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 1400/QĐ-TTg |
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2008 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Nghị định số 75/2006 NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020" với những nội dung chính
như sau:
1. Mục tiêu chung
Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ
trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ
mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến
rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối
với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp
trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin
trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn
hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Triển khai thực hiện chương trình giáo dục
10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông. Từ năm
2010 - 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới cho khoảng 20% số
lượng học sinh lớp 3 và mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học 2015 -
2016; đạt 100% vào năm 2018 - 2019;
b) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường
môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp cho khoảng 10% số lượng học sinh dạy
nghề, trung cấp chuyên nghiệp vào năm học 2010 - 2011, 60% vào năm 2015 - 2016
và đạt 100% vào năm học 2019 - 2020;
c) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường
môn ngoại ngữ đối với giáo dục đại học (cả các cơ sở đào tạo chuyên ngữ và
không chuyên ngữ) cho khoảng 10% số lượng sinh viên cao đẳng, đại học vào năm
học 2010 - 2011; 60% vào năm học 2015 - 2016 và 100% vào năm 2019 - 2020;
d) Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương
trình giáo dục thường xuyên với nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các
cấp học, trình độ đào tạo góp phần tích cực vào công tác bồi dưỡng, nâng cao
trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa
dạng hóa các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học.
Phấn đấu có 5% số cán bộ, công chức, viên chức
trong các cơ quan nhà nước có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên vào năm 2015 và
đạt 30% vào năm 2020.
1. Quy định môn ngoại ngữ được dạy và học trong
các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân là tiếng Anh và một số ngôn
ngữ khác.
2. Xây dựng và ban hành khung trình độ năng lực
ngoại ngữ thống nhất, chi tiết gồm 6 bậc, tương thích với các bậc trình độ
ngoại ngữ quốc tế thông dụng để làm căn cứ biên soạn chương trình, giáo trình,
kế hoạch giảng dạy và xây dựng tiêu chí đánh giá ở từng cấp học, trình độ đào
tạo, bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấp học.
Khung trình độ năng lực ngoại ngữ cần xác định
rõ yêu cầu về trình độ, năng lực nghe, nói, đọc, viết tương thích với các tiêu
chí xác định 6 bậc do Hiệp hội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban
hành (viết tắt là KNLNN) trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6 là bậc cao
nhất.
3. Xây dựng và triển khai chương trình mới đào
tạo ngoại ngữ bắt buộc ở cấp học phổ thông đạt các bậc trình độ như sau: tốt
nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học đạt trình
độ bậc 2 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trình độ bậc 3 theo
KNLNN.
Tổ chức xây dựng các chương trình ngoại ngữ phổ
thông 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 đến lớp 12, biên soạn sách giáo khoa, tài liệu
học tập, giảng dạy, phù hợp với quy định về năng lực trình độ của mỗi cấp, lớp
học. Khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng, thực hiện các chương
trình song ngữ, bồi dưỡng nâng cao trong các cơ sở của mình.
Ngoài chương trình đào tạo môn ngoại ngữ bắt
buộc (ngoại ngữ 1), học sinh có thể tự chọn học thêm một ngoại ngữ khác (ngoại
ngữ 2). Việc bố trí dạy môn ngoại ngữ 2 chỉ thực hiện từ lớp 6 đến lớp 12 với
trình độ đạt tương đương bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung học phổ
thông.
Xây dựng và triển khai các chương trình dạy và
học bằng ngoại ngữ cho một số môn như: Toán và một số môn phù hợp ở các trường
trung học phổ thông.
4. Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại
ngữ mới đối với giáo dục chuyên nghiệp (trung cấp và dạy nghề) với mức trình độ
tối thiểu đạt được bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trường nghề và bậc 3
theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp.
Đối với giáo dục chuyên nghiệp, chương trình
đào tạo ngoại ngữ có thể áp dụng theo một số chương trình khác nhau, phù hợp
với các đối tượng người học có kiến thức phổ thông hoặc trình độ khác nhau.
5. Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại
ngữ mới đối với giáo dục đại học. Nội dung chương trình đào tạo ngoại ngữ trong
các cơ sở giáo dục đại học có thể áp dụng cho hai nhóm đối tượng chính: một
nhóm dành cho các đối tượng người học đã học ngoại ngữ theo chương trình 7 năm
ở phổ thông và một nhóm dành cho các đối tượng người học đã học theo chương
trình ngoại ngữ 10 năm ở phổ thông.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học không chuyên
ngữ, chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ tối thiểu là
bậc 3 theo KNLNN sau khoá tốt nghiệp.
Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ,
chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ bậc 4 sau khoá tốt
nghiệp cao đẳng và bậc 5 sau khoá tốt nghiệp đại học và bắt buộc người học phải
đồng thời được đào tạo hai ngoại ngữ trong một khoá đào tạo, một ngoại ngữ
chính (ngoại ngữ 1) và một ngoại ngữ phụ (ngoại ngữ 2), trong đó thời lượng đào
tạo ngoại ngữ phụ không quá 1/2 thời lượng dành cho việc đào tạo ngoại ngữ
chính.
Xây dựng và triển khai chương trình dạy bằng
ngoại ngữ một số môn cơ bản, cơ sở chuyên ngành và tự chọn ở một số ngành trọng
điểm trong chương trình đại học ở năm cuối bậc đại học.
6. Thực hiện đổi mới chương trình đào tạo ngoại
ngữ đối với giáo dục thường xuyên.
Chương trình đào tạo ngoại ngữ áp dụng trong
các cơ sở giáo dục thường xuyên phải phù hợp nhu cầu đa dạng phong phú về hình
thức, đối tượng, trình độ đào tạo đáp ứng nhu cầu người học, có tác dụng tích
cực khắc phục những hạn chế của giáo dục chính quy.
Chương trình đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở
giáo dục thường xuyên phải đảm bảo yêu cầu nội dung, chất lượng. Trình độ năng
lực ngoại ngữ của người học sau khi tốt nghiệp các cơ sở giáo dục thường xuyên
phải đạt tương đương với trình độ đào tạo theo hình thức chính quy tương ứng ở
các cấp học, trình độ đào tạo.
7. Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong
đào tạo ngoại ngữ; xây dựng các dữ liệu ngân hàng câu hỏi, phục vụ cho việc
kiểm tra, đánh giá trình độ ngoại ngữ của người học; tăng cường ứng dụng công
nghệ thông tin trong đào tạo môn ngoại ngữ; nâng cao hiệu quả công tác khảo thí
và kiểm định chất lượng đào tạo các môn ngoại ngữ.
1. Thành lập Ban Chỉ đạo ở Trung ương để chỉ
đạo tổ chức triển khai thực hiện Đề án này gồm đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ
quan liên quan, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo làm Trưởng ban.
2. Tổ chức rà soát, quy hoạch, xây dựng kế
hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tuyển dụng đội ngũ giáo viên, giảng viên
trong các cơ sở giáo dục và cả nước, bảo đảm đáp ứng nhu cầu về số lượng, cơ
cấu, trình độ đào tạo.
- Tiến hành việc rà soát, đánh giá thực trạng
đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ trong các cấp học, nhất là ở các cơ sở
giáo dục phổ thông, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch tuyển dụng, đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hàng năm và các giai đoạn đến năm 2010, năm
2020, phù hợp với các quy định, tiêu chí hiện hành;
- Triển khai thực hiện các kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng, tuyển dụng giáo viên ngoại ngữ các cấp học, nhằm bổ sung, chuẩn hóa
về trình độ đào tạo đội ngũ theo quy định. Mở các khoá bồi dưỡng, cấp chứng chỉ
nghiệp vụ sư phạm cho những người đạt trình độ ngoại ngữ theo quy định mà có
nguyện vọng được tuyển dụng làm giáo viên, giảng viên dạy ngoại ngữ;
Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp đào tạo, bồi
dưỡng. Khuyến khích bồi dưỡng giáo viên qua các khoá tập huấn quốc tế trong
nước và nước ngoài, được cấp chứng chỉ quốc tế;
- Nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của các
trường cao đẳng, đại học đào tạo chuyên ngoại ngữ hiện có; mở rộng việc thành
lập các khoa đào tạo ngoại ngữ ở một số trường đại học, cao đẳng có điều kiện
bảo đảm, chú trọng xây dựng, phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo giáo viên
ngoại ngữ trình độ cao đẳng, đại học ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên,
đồng bằng sông Cửu Long;
- Thực hiện đổi mới công tác tuyển sinh đào tạo
giáo viên ngoại ngữ theo hướng tăng cường tính tự chủ của các nhà trường trong
công tác tuyển sinh đào tạo bồi dưỡng;
- Khuyến khích mạnh mẽ, tạo cơ chế thuận lợi để
các trường liên kết, hợp tác giảng dạy, đào tạo, tuyển dụng người Việt Nam ở
nước ngoài hoặc người nước ngoài có đủ trình độ ngoại ngữ làm giáo viên dạy
ngoại ngữ trong các nhà trường. Nhất là đối với các trường phổ thông chuyên
ngữ, dạy các chương trình ngoại ngữ tăng cường, dạy song ngữ. Thu hút sự giúp
đỡ, tham gia đào tạo của các tổ chức, đội ngũ giáo viên tình nguyện có chất
lượng của những nước nói tiếng Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc.
3. Nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh
các cơ chế, chính sách chế độ cần thiết, phù hợp, đáp ứng yêu cầu của công tác
giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung những cơ chế,
chính sách phù hợp dành cho đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ các cấp
học, tạo điều kiện thực hiện các chương trình hoạt động nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục;
- Xây dựng, ban hành các chính sách đầu tư, các
tiêu chí xây dựng cơ sở vật chất đối với các cơ sở đào tạo ngoại ngữ;
- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá, thu hút sự đóng
góp của toàn xã hội cho công tác dạy và học ngoại ngữ; khuyến khích đầu tư nước
ngoài phát triển mở rộng các loại hình cơ sở đào tạo ngoại ngữ;
- Hoàn chỉnh các quy định về việc dạy và học,
kiểm tra, đánh giá, cấp văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ; khuyến khích thành lập
các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ có chất lượng.
4. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị
phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ
- Xây dựng danh mục thiết bị tối thiểu phục vụ
cho việc dạy và học ngoại ngữ trong các cấp học, trình độ đào tạo; ban hành
tiêu chuẩn phòng học tiếng nước ngoài, phòng nghe nhìn và phòng đa phương tiện;
- Từng bước đầu tư mua sắm các thiết bị dạy và
học ngoại ngữ phù hợp cho các cơ sở giáo dục theo lộ trình triển khai đề án,
bảo đảm 100% các trường tham gia đề án đều có phòng học tiếng nước ngoài và có
phòng nghe nhìn;
- Xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng
thường xuyên, định kỳ về công tác sử dụng thiết bị dạy và học ngoại ngữ, bảo
đảm tính thiết thực và hiệu quả; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong
việc dạy và học ngoại ngữ ở các nhà trường.
5. Tăng cường hợp tác quốc tế trong dạy và học
ngoại ngữ
- Dành ưu tiên một phần nguồn vốn viện trợ phát
triển giáo dục và đào tạo để đầu tư cho công tác dạy và học ngoại ngữ trong các
nhà trường;
- Khuyến khích các cơ sở giáo dục mở rộng, đa
dạng hóa các hình thức hợp tác quốc tế với các tổ chức ở các quốc gia có bản
ngữ hoặc ngôn ngữ quốc gia phù hợp với việc dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam;
thực hiện các chương trình hợp tác, trao đổi giáo viên với nước ngoài nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho các giáo viên người nước ngoài tham gia đào tạo ngoại
ngữ trong các trường cao đẳng, đại học của Việt Nam.
TÌNH TRẠNG VĂN BẢN (Update 23.2.2026)
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg: Còn hiệu lực
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg (Bản Word - Tiếng Việt)
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg (Bản PDF)
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg (Bản Word - Tiếng Anh)
|
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
|
Số: 1400/QĐ-TTg |
Hà Nội, ngày 30 tháng 9 năm 2008 |
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Giáo dục ngày 14 tháng 6 năm 2005 và Nghị định số 75/2006 NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo,
QUYẾT ĐỊNH
Điều 1. Phê duyệt Đề án "Dạy và học ngoại ngữ trong
hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020" với những nội dung chính
như sau:
1. Mục tiêu chung
Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ
trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ
mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2015 đạt được một bước tiến
rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối
với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2020 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp
trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin
trong giao tiếp, học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn
hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Mục tiêu cụ thể
a) Triển khai thực hiện chương trình giáo dục
10 năm, bắt đầu từ lớp 3 môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông. Từ năm
2010 - 2011 triển khai dạy ngoại ngữ theo chương trình mới cho khoảng 20% số
lượng học sinh lớp 3 và mở rộng dần quy mô để đạt khoảng 70% vào năm học 2015 -
2016; đạt 100% vào năm 2018 - 2019;
b) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường
môn ngoại ngữ đối với giáo dục nghề nghiệp cho khoảng 10% số lượng học sinh dạy
nghề, trung cấp chuyên nghiệp vào năm học 2010 - 2011, 60% vào năm 2015 - 2016
và đạt 100% vào năm học 2019 - 2020;
c) Triển khai chương trình đào tạo tăng cường
môn ngoại ngữ đối với giáo dục đại học (cả các cơ sở đào tạo chuyên ngữ và
không chuyên ngữ) cho khoảng 10% số lượng sinh viên cao đẳng, đại học vào năm
học 2010 - 2011; 60% vào năm học 2015 - 2016 và 100% vào năm 2019 - 2020;
d) Đổi mới việc dạy và học ngoại ngữ trong chương
trình giáo dục thường xuyên với nội dung, chương trình đào tạo phù hợp với các
cấp học, trình độ đào tạo góp phần tích cực vào công tác bồi dưỡng, nâng cao
trình độ ngoại ngữ cho nguồn nhân lực, đội ngũ cán bộ, viên chức; thực hiện đa
dạng hóa các hình thức học tập, đáp ứng nhu cầu người học.
Phấn đấu có 5% số cán bộ, công chức, viên chức
trong các cơ quan nhà nước có trình độ ngoại ngữ bậc 3 trở lên vào năm 2015 và
đạt 30% vào năm 2020.
1. Quy định môn ngoại ngữ được dạy và học trong
các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân là tiếng Anh và một số ngôn
ngữ khác.
2. Xây dựng và ban hành khung trình độ năng lực
ngoại ngữ thống nhất, chi tiết gồm 6 bậc, tương thích với các bậc trình độ
ngoại ngữ quốc tế thông dụng để làm căn cứ biên soạn chương trình, giáo trình,
kế hoạch giảng dạy và xây dựng tiêu chí đánh giá ở từng cấp học, trình độ đào
tạo, bảo đảm sự liên thông trong đào tạo ngoại ngữ giữa các cấp học.
Khung trình độ năng lực ngoại ngữ cần xác định
rõ yêu cầu về trình độ, năng lực nghe, nói, đọc, viết tương thích với các tiêu
chí xác định 6 bậc do Hiệp hội các tổ chức khảo thí ngoại ngữ châu Âu đã ban
hành (viết tắt là KNLNN) trong đó bậc 1 là bậc thấp nhất và bậc 6 là bậc cao
nhất.
3. Xây dựng và triển khai chương trình mới đào
tạo ngoại ngữ bắt buộc ở cấp học phổ thông đạt các bậc trình độ như sau: tốt
nghiệp tiểu học đạt trình độ bậc 1 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học đạt trình
độ bậc 2 theo KNLNN; tốt nghiệp trung học phổ thông đạt trình độ bậc 3 theo
KNLNN.
Tổ chức xây dựng các chương trình ngoại ngữ phổ
thông 10 năm, bắt đầu từ lớp 3 đến lớp 12, biên soạn sách giáo khoa, tài liệu
học tập, giảng dạy, phù hợp với quy định về năng lực trình độ của mỗi cấp, lớp
học. Khuyến khích các cơ sở giáo dục chủ động xây dựng, thực hiện các chương
trình song ngữ, bồi dưỡng nâng cao trong các cơ sở của mình.
Ngoài chương trình đào tạo môn ngoại ngữ bắt
buộc (ngoại ngữ 1), học sinh có thể tự chọn học thêm một ngoại ngữ khác (ngoại
ngữ 2). Việc bố trí dạy môn ngoại ngữ 2 chỉ thực hiện từ lớp 6 đến lớp 12 với
trình độ đạt tương đương bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung học phổ
thông.
Xây dựng và triển khai các chương trình dạy và
học bằng ngoại ngữ cho một số môn như: Toán và một số môn phù hợp ở các trường
trung học phổ thông.
4. Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại
ngữ mới đối với giáo dục chuyên nghiệp (trung cấp và dạy nghề) với mức trình độ
tối thiểu đạt được bậc 2 theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trường nghề và bậc 3
theo KNLNN sau khi tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp.
Đối với giáo dục chuyên nghiệp, chương trình
đào tạo ngoại ngữ có thể áp dụng theo một số chương trình khác nhau, phù hợp
với các đối tượng người học có kiến thức phổ thông hoặc trình độ khác nhau.
5. Triển khai đào tạo theo chương trình ngoại
ngữ mới đối với giáo dục đại học. Nội dung chương trình đào tạo ngoại ngữ trong
các cơ sở giáo dục đại học có thể áp dụng cho hai nhóm đối tượng chính: một
nhóm dành cho các đối tượng người học đã học ngoại ngữ theo chương trình 7 năm
ở phổ thông và một nhóm dành cho các đối tượng người học đã học theo chương
trình ngoại ngữ 10 năm ở phổ thông.
Đối với các cơ sở giáo dục đại học không chuyên
ngữ, chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ tối thiểu là
bậc 3 theo KNLNN sau khoá tốt nghiệp.
Đối với các cơ sở giáo dục đào tạo chuyên ngữ,
chương trình đào tạo mới phải có mức kiến thức đạt trình độ bậc 4 sau khoá tốt
nghiệp cao đẳng và bậc 5 sau khoá tốt nghiệp đại học và bắt buộc người học phải
đồng thời được đào tạo hai ngoại ngữ trong một khoá đào tạo, một ngoại ngữ
chính (ngoại ngữ 1) và một ngoại ngữ phụ (ngoại ngữ 2), trong đó thời lượng đào
tạo ngoại ngữ phụ không quá 1/2 thời lượng dành cho việc đào tạo ngoại ngữ
chính.
Xây dựng và triển khai chương trình dạy bằng
ngoại ngữ một số môn cơ bản, cơ sở chuyên ngành và tự chọn ở một số ngành trọng
điểm trong chương trình đại học ở năm cuối bậc đại học.
6. Thực hiện đổi mới chương trình đào tạo ngoại
ngữ đối với giáo dục thường xuyên.
Chương trình đào tạo ngoại ngữ áp dụng trong
các cơ sở giáo dục thường xuyên phải phù hợp nhu cầu đa dạng phong phú về hình
thức, đối tượng, trình độ đào tạo đáp ứng nhu cầu người học, có tác dụng tích
cực khắc phục những hạn chế của giáo dục chính quy.
Chương trình đào tạo ngoại ngữ trong các cơ sở
giáo dục thường xuyên phải đảm bảo yêu cầu nội dung, chất lượng. Trình độ năng
lực ngoại ngữ của người học sau khi tốt nghiệp các cơ sở giáo dục thường xuyên
phải đạt tương đương với trình độ đào tạo theo hình thức chính quy tương ứng ở
các cấp học, trình độ đào tạo.
7. Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá trong
đào tạo ngoại ngữ; xây dựng các dữ liệu ngân hàng câu hỏi, phục vụ cho việc
kiểm tra, đánh giá trình độ ngoại ngữ của người học; tăng cường ứng dụng công
nghệ thông tin trong đào tạo môn ngoại ngữ; nâng cao hiệu quả công tác khảo thí
và kiểm định chất lượng đào tạo các môn ngoại ngữ.
1. Thành lập Ban Chỉ đạo ở Trung ương để chỉ
đạo tổ chức triển khai thực hiện Đề án này gồm đại diện lãnh đạo các Bộ, cơ
quan liên quan, do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo làm Trưởng ban.
2. Tổ chức rà soát, quy hoạch, xây dựng kế
hoạch đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng, tuyển dụng đội ngũ giáo viên, giảng viên
trong các cơ sở giáo dục và cả nước, bảo đảm đáp ứng nhu cầu về số lượng, cơ
cấu, trình độ đào tạo.
- Tiến hành việc rà soát, đánh giá thực trạng
đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ trong các cấp học, nhất là ở các cơ sở
giáo dục phổ thông, trên cơ sở đó xây dựng quy hoạch, kế hoạch tuyển dụng, đào
tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên hàng năm và các giai đoạn đến năm 2010, năm
2020, phù hợp với các quy định, tiêu chí hiện hành;
- Triển khai thực hiện các kế hoạch đào tạo,
bồi dưỡng, tuyển dụng giáo viên ngoại ngữ các cấp học, nhằm bổ sung, chuẩn hóa
về trình độ đào tạo đội ngũ theo quy định. Mở các khoá bồi dưỡng, cấp chứng chỉ
nghiệp vụ sư phạm cho những người đạt trình độ ngoại ngữ theo quy định mà có
nguyện vọng được tuyển dụng làm giáo viên, giảng viên dạy ngoại ngữ;
Đẩy mạnh việc đổi mới phương pháp đào tạo, bồi
dưỡng. Khuyến khích bồi dưỡng giáo viên qua các khoá tập huấn quốc tế trong
nước và nước ngoài, được cấp chứng chỉ quốc tế;
- Nâng cao năng lực, chất lượng đào tạo của các
trường cao đẳng, đại học đào tạo chuyên ngoại ngữ hiện có; mở rộng việc thành
lập các khoa đào tạo ngoại ngữ ở một số trường đại học, cao đẳng có điều kiện
bảo đảm, chú trọng xây dựng, phát triển mạng lưới các cơ sở đào tạo giáo viên
ngoại ngữ trình độ cao đẳng, đại học ở các vùng Tây Bắc, Đông Bắc, Tây Nguyên,
đồng bằng sông Cửu Long;
- Thực hiện đổi mới công tác tuyển sinh đào tạo
giáo viên ngoại ngữ theo hướng tăng cường tính tự chủ của các nhà trường trong
công tác tuyển sinh đào tạo bồi dưỡng;
- Khuyến khích mạnh mẽ, tạo cơ chế thuận lợi để
các trường liên kết, hợp tác giảng dạy, đào tạo, tuyển dụng người Việt Nam ở
nước ngoài hoặc người nước ngoài có đủ trình độ ngoại ngữ làm giáo viên dạy
ngoại ngữ trong các nhà trường. Nhất là đối với các trường phổ thông chuyên
ngữ, dạy các chương trình ngoại ngữ tăng cường, dạy song ngữ. Thu hút sự giúp
đỡ, tham gia đào tạo của các tổ chức, đội ngũ giáo viên tình nguyện có chất
lượng của những nước nói tiếng Anh, Pháp, Nga và Trung Quốc.
3. Nghiên cứu, điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh
các cơ chế, chính sách chế độ cần thiết, phù hợp, đáp ứng yêu cầu của công tác
giảng dạy, học tập ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân.
- Rà soát, điều chỉnh, bổ sung những cơ chế,
chính sách phù hợp dành cho đội ngũ giáo viên, giảng viên ngoại ngữ các cấp
học, tạo điều kiện thực hiện các chương trình hoạt động nâng cao chất lượng đội
ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục;
- Xây dựng, ban hành các chính sách đầu tư, các
tiêu chí xây dựng cơ sở vật chất đối với các cơ sở đào tạo ngoại ngữ;
- Đẩy mạnh công tác xã hội hoá, thu hút sự đóng
góp của toàn xã hội cho công tác dạy và học ngoại ngữ; khuyến khích đầu tư nước
ngoài phát triển mở rộng các loại hình cơ sở đào tạo ngoại ngữ;
- Hoàn chỉnh các quy định về việc dạy và học,
kiểm tra, đánh giá, cấp văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ; khuyến khích thành lập
các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng về ngoại ngữ có chất lượng.
4. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị
phục vụ việc dạy và học ngoại ngữ
- Xây dựng danh mục thiết bị tối thiểu phục vụ
cho việc dạy và học ngoại ngữ trong các cấp học, trình độ đào tạo; ban hành
tiêu chuẩn phòng học tiếng nước ngoài, phòng nghe nhìn và phòng đa phương tiện;
- Từng bước đầu tư mua sắm các thiết bị dạy và
học ngoại ngữ phù hợp cho các cơ sở giáo dục theo lộ trình triển khai đề án,
bảo đảm 100% các trường tham gia đề án đều có phòng học tiếng nước ngoài và có
phòng nghe nhìn;
- Xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng
thường xuyên, định kỳ về công tác sử dụng thiết bị dạy và học ngoại ngữ, bảo
đảm tính thiết thực và hiệu quả; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong
việc dạy và học ngoại ngữ ở các nhà trường.
5. Tăng cường hợp tác quốc tế trong dạy và học
ngoại ngữ
- Dành ưu tiên một phần nguồn vốn viện trợ phát
triển giáo dục và đào tạo để đầu tư cho công tác dạy và học ngoại ngữ trong các
nhà trường;
- Khuyến khích các cơ sở giáo dục mở rộng, đa
dạng hóa các hình thức hợp tác quốc tế với các tổ chức ở các quốc gia có bản
ngữ hoặc ngôn ngữ quốc gia phù hợp với việc dạy và học ngoại ngữ ở Việt Nam;
thực hiện các chương trình hợp tác, trao đổi giáo viên với nước ngoài nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho các giáo viên người nước ngoài tham gia đào tạo ngoại
ngữ trong các trường cao đẳng, đại học của Việt Nam.
TÌNH TRẠNG VĂN BẢN (Update 23.2.2026)
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg: Còn hiệu lực
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg (Bản Word - Tiếng Việt)
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg (Bản PDF)
QUYẾT ĐỊNH 1400/QĐ-TTg (Bản Word - Tiếng Anh)



.png)
%20(1).png)
.png)
.png)
.png)


Không có nhận xét nào: