Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy gặt đập liên hợp GĐLH- K120
Việt Nam là một nước có nền sản xuất Nông nghiệp tương đối phát triển so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Với diện tích đất tự nhiên khoảng 33,2 triệu ha, tiềm năng đất nông nghiệp vào khoảng 24 triệu ha trong đó chủ yếu là trồng lúa nước với hai vùng lớn là Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Không những cũng cấp đầy đủ lương thực cho người dân Việt Nam, mà còn trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo lớn trên thế giới.
Để đạt được những thành quả như vậy phụ thuộc vào rất nhiều khâu và công đoạn. Trong đó không thể thiếu được khâu thu hoạch lúa.
Khâu thu hoạch mang ý nghĩa rất quan trọng vì nó là khâu kết thúc của một loạt các công việc trước đó. Nếu tổ chức khâu thu hoạch nhanh, tổn thất ít thì hiệu quả trồng trọt cao. Mùa vụ thu hoạch được tiến hành khẩn trương trong thời gian ngắn. Nếu kéo dài thời gian thu hoạch là đồng nghĩa với sự mất mát, giảm năng suất.
Do yêu cầu thời vụ và đặc biệt trong khâu thu hoạch đòi hỏi một lượng lớn lao động trong thời gian ngắn nên thường xảy ra tình trạng thiếu lao động trong thời điểm thu hoạch rộ, vì vậy làm tăng giá nhân công, kéo theo tăng giá thành sản xuất, đồng thời làm giảm chất lượng hàng hóa trên thị trường.
Bên cạnh đó hiện nay ở nước ta các máy nông nghiệp được sử dụng vẫn còn hạn chế, một phần là do nhập khẩu các loại máy móc từ nước ngoài về dẫn đến giá thành máy nông nghiệp khá cao so với doanh thu từ nông nghiệp, hơn nữa trong quy hoạch canh tác đồng ruộng vẫn chưa đảm bảo được yêu cầu đưa máy móc lớn vào làm việc được. Vì vậy việc nghiên cứu, thiết kế và sử dụng máy nông nghiệp trong sản xuất, canh tác là vấn đề cấp thiết hàng đầu mà các cấp, các ngành cần phải quan tâm hơn nữa. Không chỉ dừng lại ở yêu cầu thiết kế, chế tạo ra nhiều máy móc mà chúng ta còn phải quan tâm cả việc hạ giá thành đến mức thấp nhất mà vẫn đảm bảo được quá trình làm việc của máy đạt hiệu quả cao nhất.
Hai, ba năm trở lại đây, một vài mẫu máy gặt đập liên hợp chuyên dùng cỡ trung và cỡ lớn có xuất sứ từ Trung Quốc và một số cơ sở sản xuất ở miền nam đã được đưa vào sử dụng ở đồng bằng Bắc bộ. Tuy nhiên, sau hai ba năm triển khai sử dụng, theo đánh giá của những nông dân trực tiếp sử dụng máy và một số nhà khoa học chuyên ngành máy nông nghiệp đánh giá hiệu quả làm việc của máy chưa cao, người mua máy sử dụng có lãi ít hoặc không có lãi, thậm chí còn gặp rất nhiều rủi ro dẫn tới thua lỗ nặng nề. Vì vậy, cho đến nay, chủ trương đưa máy gặt đập liên hợp vào đồng bằng Bắc bộ gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều nơi tiến trình này gần như dẫm chân tại chỗ hoặc thụt lùi. Qua tìm hiểu và phân tích, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng trên như sau:
- Quy cách đồng ruộng phần lớn là manh mún, không phù hợp với những máy gặt đập liên hợp cỡ trung và cỡ lớn
- Đường xá đi lại ở nông thôn và đường nội đồng còn nhỏ hẹp, đặc biệt là ở những vùng trung du, miền núi, gây cản trở rất nhiều cho hoạt động của những loại máy này.
- Hệ thống di chuyển của phần lớn các loại máy này là xích bọc cao su (do máy quá nặng, thường từ 2 tấn trở lên), loại xích này không phải là một công cụ làm đất, khi di chuyền trên đồng thường để lại những rãnh sâu, làm mất độ bằng phẳng của mặt đồng, gây nhiều khó khăn cho công việc làm đất tiếp theo.
- Xích cao su được thiết kế để đi lại trên nền đất mềm, không đi lại nhiều được trên nền đường cứng. Vì vậy khi phải di chuyển trên nền đường cứng với khoảng cách lớn phải có rơ moóc chuyên dùng, phát sinh thêm chi phí cho người sử dụng.
- Giá thành máy còn cao đới với người nông dân ở đồng bằng Bắc bộ
- Phụ tùng thay thế phần lớn là đặc chủng, không có sẵn và thường rất đắt.
Do đó việc nghiên cứu, chế tạo ra một mẫu máy nhỏ gọn, được sản suất hoàn toàn trong nước, hệ thống di chuyển loại thông dụng là bánh lồng hoặc bánh tăng bám được sử dụng, máy được sản suất hàng loạt theo lối công nghiệp, hợp theo các tiêu chuẩn quốc tế trong ngành máy nông nghiệp khắc phục được hầu hết các nhược điểm trên là một trong những yêu cầu cấp thiết.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên, được sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Lê Văn Bích chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“ Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy gặt đập liên hợp GĐLH- K120”
NỘI DUNG:
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 5
1.2 Tìm hiểu tình hình đặc điểm của cây lúa và một số giống lúa 7
1.2.1 Tầm quan trọng của cây lúa 7
1.2.2 Đặc điểm của cây lúa 8
1.2.3 Một số giống lúa 10
1.3 Tình hình cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa ở Việt Nam 13
1.3.1 Tình hình cơ giới hoá trên thế giới 13
1.3.2 Tình hình cơ giới hoá chung trong nước 15
1.3.3 Tình hình cơ giới hoá ở Miền Nam 16
1.3.4 Tình hình cơ giới hoá ở Miền Bắc 17
1.4 Một số máy gặt đang được sử dụng ở nước ta hiện nay 17
1.4.1 Máy gặt đập liên hợp 17
1.4.2 Máy gặt tuốt liên hợp kiểu Nhật Bản 20
1.4.3 Máy gặt bó và gặt xếp dãy 21
1.5 Mục tiêu, cách tiếp cận, phương pháp, đối tượng nghiên cứu 22
1.5.1 Mục tiêu của đề tài 22
1.5.2 Cách tiếp cận 22
1.5.3 Phương pháp nghiên cứu 22
1.5.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 23
CHƯƠNG II: TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ CÁC BỘ PHẬN LÀM VIỆC CỦA MÁY GẶT ĐẬP LIÊN HỢP GĐLH-K120 24
2.1 Tính toán và thiết kế bộ phận dao cắt 25
2.1.1 Những thông số ban đầu 25
2.1.2 Tính toán lựa chọn vận tốc hợp lý của tay quay 28
2.1.3 Tính toán xây dựng các đồ thị đặc tính làm việc của dao cắt 31
2.1.4 Tính toán chi phí năng lượng cho bộ phận cắt 41
2.2 Tính toán và thiết kế bộ phận trống đập 42
2.2.1 Lượng cung cấp 42
2.2.2 Vận tốc dài của trống đập 42
2.2.3 Lực đập 44
2.2.4 Công suất cần thiết của trống đập 44
2.2.5 Vận tốc tới hạn của trống đập 45
2.2.6 Đường kính trống đập 46
2.3 Tính toán và thiết kế bộ phận sàng 47
2.3.1 Xác định kích thước sàng 47
2.3.2 Chọn số liệu, tính toán, đánh giá chế độ động học của sàng 49
2.4 Tính toán và thiết kế bộ phận quạt 54
2.4.1 Nội dung tính toán 54
2.4.2 Tính lượng chi phí không khí cần thiết 54
2.4.3 Tốc độ dòng khí đẩy ra ở cửa quạt 55
2.4.4 Xác định áp suất toàn phần 55
2.4.5 Xác định bề rộng quạt b 56
2.4.6 Xác định chiều cao cửa thổi (a) 56
2.4.7 Xác định hướng đi của quạt 57
2.4.8 Tính công suất quạt và số vòng quay cần thiết 61
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ TÍNH NĂNG LÀM VIỆC CỦA LIÊN HƠP MÁY 62
3.1 Đặc tính kỹ thuật của máy gặt đập liên hợp GĐLH-K120 62
3.1.1 Kiểu dáng 62
3.1.2 Thông số kỹ thuật chính của máy gặt đập liên hợp GĐLH-K120 64
3.2 Đánh giá hoạt động và tính năng của máy 64
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
4.1 Kết luận 67
4.2 Kiến nghị 67
Việt Nam là một nước có nền sản xuất Nông nghiệp tương đối phát triển so với các nước trong khu vực Đông Nam Á. Với diện tích đất tự nhiên khoảng 33,2 triệu ha, tiềm năng đất nông nghiệp vào khoảng 24 triệu ha trong đó chủ yếu là trồng lúa nước với hai vùng lớn là Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long.
Ngành trồng lúa ở nước ta là một trong những ngành sản xuất lương thực vô cùng quan trọng và đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Không những cũng cấp đầy đủ lương thực cho người dân Việt Nam, mà còn trở thành một cường quốc xuất khẩu gạo lớn trên thế giới.
Để đạt được những thành quả như vậy phụ thuộc vào rất nhiều khâu và công đoạn. Trong đó không thể thiếu được khâu thu hoạch lúa.
Khâu thu hoạch mang ý nghĩa rất quan trọng vì nó là khâu kết thúc của một loạt các công việc trước đó. Nếu tổ chức khâu thu hoạch nhanh, tổn thất ít thì hiệu quả trồng trọt cao. Mùa vụ thu hoạch được tiến hành khẩn trương trong thời gian ngắn. Nếu kéo dài thời gian thu hoạch là đồng nghĩa với sự mất mát, giảm năng suất.
Do yêu cầu thời vụ và đặc biệt trong khâu thu hoạch đòi hỏi một lượng lớn lao động trong thời gian ngắn nên thường xảy ra tình trạng thiếu lao động trong thời điểm thu hoạch rộ, vì vậy làm tăng giá nhân công, kéo theo tăng giá thành sản xuất, đồng thời làm giảm chất lượng hàng hóa trên thị trường.
Bên cạnh đó hiện nay ở nước ta các máy nông nghiệp được sử dụng vẫn còn hạn chế, một phần là do nhập khẩu các loại máy móc từ nước ngoài về dẫn đến giá thành máy nông nghiệp khá cao so với doanh thu từ nông nghiệp, hơn nữa trong quy hoạch canh tác đồng ruộng vẫn chưa đảm bảo được yêu cầu đưa máy móc lớn vào làm việc được. Vì vậy việc nghiên cứu, thiết kế và sử dụng máy nông nghiệp trong sản xuất, canh tác là vấn đề cấp thiết hàng đầu mà các cấp, các ngành cần phải quan tâm hơn nữa. Không chỉ dừng lại ở yêu cầu thiết kế, chế tạo ra nhiều máy móc mà chúng ta còn phải quan tâm cả việc hạ giá thành đến mức thấp nhất mà vẫn đảm bảo được quá trình làm việc của máy đạt hiệu quả cao nhất.
Hai, ba năm trở lại đây, một vài mẫu máy gặt đập liên hợp chuyên dùng cỡ trung và cỡ lớn có xuất sứ từ Trung Quốc và một số cơ sở sản xuất ở miền nam đã được đưa vào sử dụng ở đồng bằng Bắc bộ. Tuy nhiên, sau hai ba năm triển khai sử dụng, theo đánh giá của những nông dân trực tiếp sử dụng máy và một số nhà khoa học chuyên ngành máy nông nghiệp đánh giá hiệu quả làm việc của máy chưa cao, người mua máy sử dụng có lãi ít hoặc không có lãi, thậm chí còn gặp rất nhiều rủi ro dẫn tới thua lỗ nặng nề. Vì vậy, cho đến nay, chủ trương đưa máy gặt đập liên hợp vào đồng bằng Bắc bộ gặp rất nhiều khó khăn. Nhiều nơi tiến trình này gần như dẫm chân tại chỗ hoặc thụt lùi. Qua tìm hiểu và phân tích, chúng tôi thấy có một số nguyên nhân chính dẫn tới tình trạng trên như sau:
- Quy cách đồng ruộng phần lớn là manh mún, không phù hợp với những máy gặt đập liên hợp cỡ trung và cỡ lớn
- Đường xá đi lại ở nông thôn và đường nội đồng còn nhỏ hẹp, đặc biệt là ở những vùng trung du, miền núi, gây cản trở rất nhiều cho hoạt động của những loại máy này.
- Hệ thống di chuyển của phần lớn các loại máy này là xích bọc cao su (do máy quá nặng, thường từ 2 tấn trở lên), loại xích này không phải là một công cụ làm đất, khi di chuyền trên đồng thường để lại những rãnh sâu, làm mất độ bằng phẳng của mặt đồng, gây nhiều khó khăn cho công việc làm đất tiếp theo.
- Xích cao su được thiết kế để đi lại trên nền đất mềm, không đi lại nhiều được trên nền đường cứng. Vì vậy khi phải di chuyển trên nền đường cứng với khoảng cách lớn phải có rơ moóc chuyên dùng, phát sinh thêm chi phí cho người sử dụng.
- Giá thành máy còn cao đới với người nông dân ở đồng bằng Bắc bộ
- Phụ tùng thay thế phần lớn là đặc chủng, không có sẵn và thường rất đắt.
Do đó việc nghiên cứu, chế tạo ra một mẫu máy nhỏ gọn, được sản suất hoàn toàn trong nước, hệ thống di chuyển loại thông dụng là bánh lồng hoặc bánh tăng bám được sử dụng, máy được sản suất hàng loạt theo lối công nghiệp, hợp theo các tiêu chuẩn quốc tế trong ngành máy nông nghiệp khắc phục được hầu hết các nhược điểm trên là một trong những yêu cầu cấp thiết.
Xuất phát từ những yêu cầu cấp thiết trên, được sự hướng dẫn của thầy giáo TS. Lê Văn Bích chúng tôi đã tiến hành thực hiện đề tài:
“ Nghiên cứu, thiết kế, chế tạo máy gặt đập liên hợp GĐLH- K120”
NỘI DUNG:
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới và ở Việt Nam 4
1.1.1 Tình hình sản xuất lúa gạo trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình sản xuất lúa gạo ở Việt Nam 5
1.2 Tìm hiểu tình hình đặc điểm của cây lúa và một số giống lúa 7
1.2.1 Tầm quan trọng của cây lúa 7
1.2.2 Đặc điểm của cây lúa 8
1.2.3 Một số giống lúa 10
1.3 Tình hình cơ giới hóa khâu thu hoạch lúa ở Việt Nam 13
1.3.1 Tình hình cơ giới hoá trên thế giới 13
1.3.2 Tình hình cơ giới hoá chung trong nước 15
1.3.3 Tình hình cơ giới hoá ở Miền Nam 16
1.3.4 Tình hình cơ giới hoá ở Miền Bắc 17
1.4 Một số máy gặt đang được sử dụng ở nước ta hiện nay 17
1.4.1 Máy gặt đập liên hợp 17
1.4.2 Máy gặt tuốt liên hợp kiểu Nhật Bản 20
1.4.3 Máy gặt bó và gặt xếp dãy 21
1.5 Mục tiêu, cách tiếp cận, phương pháp, đối tượng nghiên cứu 22
1.5.1 Mục tiêu của đề tài 22
1.5.2 Cách tiếp cận 22
1.5.3 Phương pháp nghiên cứu 22
1.5.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 23
CHƯƠNG II: TÍNH TOÁN, THIẾT KẾ CÁC BỘ PHẬN LÀM VIỆC CỦA MÁY GẶT ĐẬP LIÊN HỢP GĐLH-K120 24
2.1 Tính toán và thiết kế bộ phận dao cắt 25
2.1.1 Những thông số ban đầu 25
2.1.2 Tính toán lựa chọn vận tốc hợp lý của tay quay 28
2.1.3 Tính toán xây dựng các đồ thị đặc tính làm việc của dao cắt 31
2.1.4 Tính toán chi phí năng lượng cho bộ phận cắt 41
2.2 Tính toán và thiết kế bộ phận trống đập 42
2.2.1 Lượng cung cấp 42
2.2.2 Vận tốc dài của trống đập 42
2.2.3 Lực đập 44
2.2.4 Công suất cần thiết của trống đập 44
2.2.5 Vận tốc tới hạn của trống đập 45
2.2.6 Đường kính trống đập 46
2.3 Tính toán và thiết kế bộ phận sàng 47
2.3.1 Xác định kích thước sàng 47
2.3.2 Chọn số liệu, tính toán, đánh giá chế độ động học của sàng 49
2.4 Tính toán và thiết kế bộ phận quạt 54
2.4.1 Nội dung tính toán 54
2.4.2 Tính lượng chi phí không khí cần thiết 54
2.4.3 Tốc độ dòng khí đẩy ra ở cửa quạt 55
2.4.4 Xác định áp suất toàn phần 55
2.4.5 Xác định bề rộng quạt b 56
2.4.6 Xác định chiều cao cửa thổi (a) 56
2.4.7 Xác định hướng đi của quạt 57
2.4.8 Tính công suất quạt và số vòng quay cần thiết 61
CHƯƠNG III: ĐÁNH GIÁ SƠ BỘ TÍNH NĂNG LÀM VIỆC CỦA LIÊN HƠP MÁY 62
3.1 Đặc tính kỹ thuật của máy gặt đập liên hợp GĐLH-K120 62
3.1.1 Kiểu dáng 62
3.1.2 Thông số kỹ thuật chính của máy gặt đập liên hợp GĐLH-K120 64
3.2 Đánh giá hoạt động và tính năng của máy 64
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 67
4.1 Kết luận 67
4.2 Kiến nghị 67


.png)
.png)
%20(1).png)

.png)



Không có nhận xét nào: