TỔNG HỢP TÀI LIỆU - Trắc nghiệm và đề cương ôn tập - Môn Lý luận văn học (Update liên tục)



Câu 1: Ngơn từ hiện nay có vơ vàn mối liên hệ chằng chịt với đời sống XH, nhưng vẫn là một hiện tượng nghệ thuật thẩm mĩ độc đáo, khác hẳn khoa học và lời nói đời thường

Từ nhận xét trên, anh/chị hãy trình bày ý kiến của mình về những đặc trưng cơ bản của ngôn từ văn học

Trả lời:

Ngôn từ văn học khác với ngôn từ đời thường và ngôn từ khoa học. Bởi nó

được chọn lọc kĩ càng, gia công, tổ chức thành một văn bản ổn định và sẽ

có ý nghĩa giao tiếp lâu dài với người đọc của các thế hệ khác nhau

Bahktin: “Thực ra, nghệ sĩ gia cơng ngơn ngữ, nhưng khơng như ngơn ngữ;

bởi vì anh ta sẽ khắc phục ngôn ngữ như là ngôn ngữ để biến nó thành

phương tiện biểu hiện nghệ thuật”

Văn học là nghệ thuật ngôn từ: Ngôn từ là chất liệu của văn học, tác giả

thơng qua lăng kính ngơn ngữ để cảm nhận cảm xúc của mình, thể

nghiệm sức sống phong phú, đa dạng của mn lồi. Nó là cơng cụ để

truyền tải tư tưởng, tình cảm, quan niệm về hiện thực cuộc sống

=> Ngôn từ văn học là một hiện tượng nghệ thuật thẩm mĩ độc đáo, mang

những đặc trưng riêng

Đặc trưng cơ bản của ngôn từ văn học:

7 đặc trưng: (Ngữ âm, hư cấu và hình tượng, nội chỉ, mơ hồ đa nghĩa, lạ hóa,

thẩm mĩ, tổ chức)

1. Đặc trưng về ngữ âm:

Ngôn từ văn học là một sáng tạo thẩm mĩ, đòi hỏi sự hòa điệu và nhạc tính.

Phương diện ngữ âm của ngơn từ văn học bao gồm âm, thanh, nhịp, điệu

+ Vần: Gieo vần để tạo liên kết giữa các câu thơ, có tác dụng gợi tả, biểu

cảm

1



+ Thanh điệu: Bằng trắc, tạo ra nhịp điệu trầm bổng

VD: “Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/ Đường Bạch Dương sương trắng nắng




tràn” (Tố Hữu)

- Gieo vần “an” - vần mở tạo hiệu ứng ngân vang rộng mở, tuyết rộng lớn

- Gieo vần: Dương - sương, trắng - nắng: tạo cảm giác lan tỏa của ánh nắng

- Thanh điệu: 10 thanh bằng tạo cảm giác ấm áp

- Điểm một số thanh trắc vào giữa những câu thơ – vút cao, cảm xúc hứng

khởi dâng trào

 So sánh

Đây là một điểm đặc biệt của ngôn từ văn học so với ngôn từ đời thường và

ngôn từ khoa học.

Ngôn từ đời thường khơng có sự gieo vần hay sử dụng thanh điệu một cách

có chủ đích mà chỉ là lời nói thơng thường hàng ngày, được nói ra một cách

ngẫu nhiên. Tuy nhiên lời nói có thể sử dụng ngữ điệu, kết hợp với các cử

chỉ, biểu hiện của nét mặt. Mục đích: Nói để người nghe hiểu

Ngơn từ khoa học thì phải có sự chính xác, khơng có nhạc tính

2. Tính hư cấu, hình tượng

a. Tác giả đứng ngồi - chủ thể hư cấu

- Tác giả lời nói đứng ngồi tác phẩm, nhường lời cho chủ thể của lời nói. Đó

là phương tiện biểu đạt gián tiếp. Tác giả là người im lặng trong văn bản

(Khác với ngôn từ đời thường là ta có thể phân biệt rõ ràng tác giả lời nói,

chủ thể lời nói và chủ thể ý thức lời nói. Tác giả có vị trí xã hội càng quan

trọng thì lời nói của anh ta càng quan trọng)

VD: “Người con gái Việt Nam”, Tố Hữu ghi lời đề tặng là “Tặng chị Lý anh

dũng” nhưng trong bài thì chủ thể lại gọi chị Lý bằng “em”: “Em là ai, cô gái

2



hay nàng tiên”, xưng tôi: “Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt”

+ Tác giả là không phải nguồn phát ngôn mà người phát ngôn là một chủ

thể do tác giả tạo ra: là sản phẩm của sự hư cấu của tác giả

+ Chủ thể đó giao tiếp với một người đọc là người đọc hàm ẩn



== Do vậy văn bản nghệ thuật là sản phẩm của một sự giao tiếp đặc thù

== Sự phân biệt tác giả, chủ thể cho phép tác giả bộc lộ cảm xúc của chủ

thể, lời của chủ thể quan trọng hơn lời của tác giả, cho nên khơng phụ thuộc

vào vị trí xã hội của ai.

== Sự tách biệt tác giả ra ngoài làm cho hoạt động giao tiếp nghệ thuật

trong văn học khác với ngơn từ thơng thường

b. Tính hình tượng

- Tính hình tượng của ngơn từ văn học phát sinh từ tính hình tượng của chủ

thể tưởng tượng

Mọi ngơn từ đều là lời nói của chủ thể do tác giả sáng tạo ra, phát biểu một

cách hình tượng

== Nhờ tính hình tượng này mà sự vật, con vật, người chết, yêu ma… cũng

đều phát ngơn, đều có ngơn từ của chúng

VD: Hình tượng “em” trong “Người con gái Việt Nam” của Tố Hữu hiện lên

như một người kì lạ, người ở cõi tiên: “Cơ gái hay nàng tiên”, “có tuổi hay

khơng tuổi”, “thịt da em hay là sắt là đồng”

- Tự bản thân ngơn từ văn học đã là một hình tượng của ngôn ngữ.

+ Ngôn từ của nhân vật trong văn xi chính là hình tượng hay là sự tái hiện cái ngơn ngữ của nhân vật mà nhà văn có thể tóm tắt, tái hiện đầy đủ, hay chỉ phác qua vài nét về ngơn ngữ đó

+ Trong thi ca, bản thân lời thơ với vần, nhịp, hình ảnh đã là một hình tượng về ngơn từ đẹp, giàu cảm xúc

...










Đề cương lí luận văn học cô Ngọc Minh




Đề cương - Đề cương kết thúc học phần Lí luận văn học 2 (Câu hỏi ôn tập + Kèm đáp án)




Đề cương HP - Lý luận văn học 2 (HNUE) (Phạm Thị Huyền - 123doc)




LINK DOWNLOAD (UPDATING...)






UPDATING...



Câu 1: Ngơn từ hiện nay có vơ vàn mối liên hệ chằng chịt với đời sống XH, nhưng vẫn là một hiện tượng nghệ thuật thẩm mĩ độc đáo, khác hẳn khoa học và lời nói đời thường

Từ nhận xét trên, anh/chị hãy trình bày ý kiến của mình về những đặc trưng cơ bản của ngôn từ văn học

Trả lời:

Ngôn từ văn học khác với ngôn từ đời thường và ngôn từ khoa học. Bởi nó

được chọn lọc kĩ càng, gia công, tổ chức thành một văn bản ổn định và sẽ

có ý nghĩa giao tiếp lâu dài với người đọc của các thế hệ khác nhau

Bahktin: “Thực ra, nghệ sĩ gia cơng ngơn ngữ, nhưng khơng như ngơn ngữ;

bởi vì anh ta sẽ khắc phục ngôn ngữ như là ngôn ngữ để biến nó thành

phương tiện biểu hiện nghệ thuật”

Văn học là nghệ thuật ngôn từ: Ngôn từ là chất liệu của văn học, tác giả

thơng qua lăng kính ngơn ngữ để cảm nhận cảm xúc của mình, thể

nghiệm sức sống phong phú, đa dạng của mn lồi. Nó là cơng cụ để

truyền tải tư tưởng, tình cảm, quan niệm về hiện thực cuộc sống

=> Ngôn từ văn học là một hiện tượng nghệ thuật thẩm mĩ độc đáo, mang

những đặc trưng riêng

Đặc trưng cơ bản của ngôn từ văn học:

7 đặc trưng: (Ngữ âm, hư cấu và hình tượng, nội chỉ, mơ hồ đa nghĩa, lạ hóa,

thẩm mĩ, tổ chức)

1. Đặc trưng về ngữ âm:

Ngôn từ văn học là một sáng tạo thẩm mĩ, đòi hỏi sự hòa điệu và nhạc tính.

Phương diện ngữ âm của ngơn từ văn học bao gồm âm, thanh, nhịp, điệu

+ Vần: Gieo vần để tạo liên kết giữa các câu thơ, có tác dụng gợi tả, biểu

cảm

1



+ Thanh điệu: Bằng trắc, tạo ra nhịp điệu trầm bổng

VD: “Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan/ Đường Bạch Dương sương trắng nắng




tràn” (Tố Hữu)

- Gieo vần “an” - vần mở tạo hiệu ứng ngân vang rộng mở, tuyết rộng lớn

- Gieo vần: Dương - sương, trắng - nắng: tạo cảm giác lan tỏa của ánh nắng

- Thanh điệu: 10 thanh bằng tạo cảm giác ấm áp

- Điểm một số thanh trắc vào giữa những câu thơ – vút cao, cảm xúc hứng

khởi dâng trào

 So sánh

Đây là một điểm đặc biệt của ngôn từ văn học so với ngôn từ đời thường và

ngôn từ khoa học.

Ngôn từ đời thường khơng có sự gieo vần hay sử dụng thanh điệu một cách

có chủ đích mà chỉ là lời nói thơng thường hàng ngày, được nói ra một cách

ngẫu nhiên. Tuy nhiên lời nói có thể sử dụng ngữ điệu, kết hợp với các cử

chỉ, biểu hiện của nét mặt. Mục đích: Nói để người nghe hiểu

Ngơn từ khoa học thì phải có sự chính xác, khơng có nhạc tính

2. Tính hư cấu, hình tượng

a. Tác giả đứng ngồi - chủ thể hư cấu

- Tác giả lời nói đứng ngồi tác phẩm, nhường lời cho chủ thể của lời nói. Đó

là phương tiện biểu đạt gián tiếp. Tác giả là người im lặng trong văn bản

(Khác với ngôn từ đời thường là ta có thể phân biệt rõ ràng tác giả lời nói,

chủ thể lời nói và chủ thể ý thức lời nói. Tác giả có vị trí xã hội càng quan

trọng thì lời nói của anh ta càng quan trọng)

VD: “Người con gái Việt Nam”, Tố Hữu ghi lời đề tặng là “Tặng chị Lý anh

dũng” nhưng trong bài thì chủ thể lại gọi chị Lý bằng “em”: “Em là ai, cô gái

2



hay nàng tiên”, xưng tôi: “Cho tôi hôn bàn chân em lạnh ngắt”

+ Tác giả là không phải nguồn phát ngôn mà người phát ngôn là một chủ

thể do tác giả tạo ra: là sản phẩm của sự hư cấu của tác giả

+ Chủ thể đó giao tiếp với một người đọc là người đọc hàm ẩn



== Do vậy văn bản nghệ thuật là sản phẩm của một sự giao tiếp đặc thù

== Sự phân biệt tác giả, chủ thể cho phép tác giả bộc lộ cảm xúc của chủ

thể, lời của chủ thể quan trọng hơn lời của tác giả, cho nên khơng phụ thuộc

vào vị trí xã hội của ai.

== Sự tách biệt tác giả ra ngoài làm cho hoạt động giao tiếp nghệ thuật

trong văn học khác với ngơn từ thơng thường

b. Tính hình tượng

- Tính hình tượng của ngơn từ văn học phát sinh từ tính hình tượng của chủ

thể tưởng tượng

Mọi ngơn từ đều là lời nói của chủ thể do tác giả sáng tạo ra, phát biểu một

cách hình tượng

== Nhờ tính hình tượng này mà sự vật, con vật, người chết, yêu ma… cũng

đều phát ngơn, đều có ngơn từ của chúng

VD: Hình tượng “em” trong “Người con gái Việt Nam” của Tố Hữu hiện lên

như một người kì lạ, người ở cõi tiên: “Cơ gái hay nàng tiên”, “có tuổi hay

khơng tuổi”, “thịt da em hay là sắt là đồng”

- Tự bản thân ngơn từ văn học đã là một hình tượng của ngôn ngữ.

+ Ngôn từ của nhân vật trong văn xi chính là hình tượng hay là sự tái hiện cái ngơn ngữ của nhân vật mà nhà văn có thể tóm tắt, tái hiện đầy đủ, hay chỉ phác qua vài nét về ngơn ngữ đó

+ Trong thi ca, bản thân lời thơ với vần, nhịp, hình ảnh đã là một hình tượng về ngơn từ đẹp, giàu cảm xúc

...










Đề cương lí luận văn học cô Ngọc Minh




Đề cương - Đề cương kết thúc học phần Lí luận văn học 2 (Câu hỏi ôn tập + Kèm đáp án)




Đề cương HP - Lý luận văn học 2 (HNUE) (Phạm Thị Huyền - 123doc)




LINK DOWNLOAD (UPDATING...)






UPDATING...

M_tả

M_tả

Không có nhận xét nào: