Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn chuyên ngành Hóa học - Vật liệu (Chemistry & Materials). Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn chuyên ngành Hóa học - Vật liệu (Chemistry & Materials). Hiển thị tất cả bài đăng

Thiết kế dự án nhà máy sản xuất MTBE với công suất 200.000 tấn năm sử dụng nguyên liệu là metanol và izobuten từ phân đoạn C4




Dùng phụ gia MTBE nói chung là khá  an toàn về mặt sử dụng cũng nh- bảo quản, vận chuyển. Hiện nay nhu cầu về MTBE trên thế giới cũng nh- ở Việt Nam là rất lớn, do vậy việc thiết kế một phân x-ởng sản xuất MTBE là cần thiết và rất có ý nghĩa, nhất là khi mà yêu cầu về xăng chất l-ợng cao ngày một tăng nhanh nh- hiện nay.  

Đồ án này thực hiện việc thiết kế một phân x-ởng sản xuất MTBE đi từ nguồn  nguyên liệu là iso butan. 

 




Dùng phụ gia MTBE nói chung là khá  an toàn về mặt sử dụng cũng nh- bảo quản, vận chuyển. Hiện nay nhu cầu về MTBE trên thế giới cũng nh- ở Việt Nam là rất lớn, do vậy việc thiết kế một phân x-ởng sản xuất MTBE là cần thiết và rất có ý nghĩa, nhất là khi mà yêu cầu về xăng chất l-ợng cao ngày một tăng nhanh nh- hiện nay.  

Đồ án này thực hiện việc thiết kế một phân x-ởng sản xuất MTBE đi từ nguồn  nguyên liệu là iso butan. 

 




M_tả

M_tả

Đồ án Thiết kế phân xưởng sản suất Metyl Tert Butyl Ete (MTBE) từ iso Butan (Lê Khánh Toàn) Full




Dùng phụ gia MTBE nói chung là khá  an toàn về mặt sử dụng cũng nh- bảo quản, vận chuyển. Hiện nay nhu cầu về MTBE trên thế giới cũng nh- ở Việt Nam là rất lớn, do vậy việc thiết kế một phân x-ởng sản xuất MTBE là cần thiết và rất có ý nghĩa, nhất là khi mà yêu cầu về xăng chất l-ợng cao ngày một tăng nhanh nh- hiện nay.  




Dùng phụ gia MTBE nói chung là khá  an toàn về mặt sử dụng cũng nh- bảo quản, vận chuyển. Hiện nay nhu cầu về MTBE trên thế giới cũng nh- ở Việt Nam là rất lớn, do vậy việc thiết kế một phân x-ởng sản xuất MTBE là cần thiết và rất có ý nghĩa, nhất là khi mà yêu cầu về xăng chất l-ợng cao ngày một tăng nhanh nh- hiện nay.  




M_tả

M_tả

Thiết kế phân xưởng sản xuất MTBE từ isobutan năng suất 25.000 - 30.000 tấn/năm (Full)

 



MTBE là tên viết tắt của Metyl tert butyl ete là hợp chất chứa oxy có công thức cấu tạo: 

MTBE được tổng hợp từ TBA hoặc tổng hợp từ isobutylen với metanol ( đây là hai phương pháp chính trong công nghiệp). MTBE là cấu tử có trị số octan rất cao do vậy được sử dụng chủ yếu để pha vào xăng nhằm cải thiện chất lượng xăng và giảm ô nhiễm môi trường. MTBE có nhiều ưu điểm hơn so với phụ gia Pb ở chỗ MTBE vừa có tác dụng nâng cao trị số ON của xăng vừa làm tăng khả năng cháy hoàn toàn của nhiên liệu, do đó giảm khí thải gây ô nhiễm( khí CO ), không làm tăng áp suất hơi bão hoà của nhiên liệu, ổn định tốt có tính tương thích khi pha chộn với nhiên liệu, tan tốt trong nhiên liệu…

Nhu cầu tiêu thụ MTBE đang tăng nhanh, MTBE là một trong những hoá chất tăng  trưởng  mạnh nhất trên  thế giới với tốc độ tăng trưởng trung bình 20% mỗi năm (1989--1994).Dự báo đến năm 2010 nhu cầu về MTBE trên toàn thế giới có thể lên tới 29000 tấn/năm. Có nhiều công nghệ sản xuất MTBE của các hãng khác nhau trên thế giới, ví dụ như qui trình công nghệ sản xuất MTBE của Snamprogatti (Mĩ) sử dụng nguyên liệu là hỗn hợp khí C4 chứa isobutylen. Qui trình công nghệ sản xuất MTBE của Huls ( Cộng hoà liên bang Đức). quá trình của CD Tech dùng nguyên liệu C1 và C5 ( hỗn hợp khí). Quá  trình ARCO với nguyên liệu từ quá trình đehydrat hoá Tert Butyl Alcohol.

 



MTBE là tên viết tắt của Metyl tert butyl ete là hợp chất chứa oxy có công thức cấu tạo: 

MTBE được tổng hợp từ TBA hoặc tổng hợp từ isobutylen với metanol ( đây là hai phương pháp chính trong công nghiệp). MTBE là cấu tử có trị số octan rất cao do vậy được sử dụng chủ yếu để pha vào xăng nhằm cải thiện chất lượng xăng và giảm ô nhiễm môi trường. MTBE có nhiều ưu điểm hơn so với phụ gia Pb ở chỗ MTBE vừa có tác dụng nâng cao trị số ON của xăng vừa làm tăng khả năng cháy hoàn toàn của nhiên liệu, do đó giảm khí thải gây ô nhiễm( khí CO ), không làm tăng áp suất hơi bão hoà của nhiên liệu, ổn định tốt có tính tương thích khi pha chộn với nhiên liệu, tan tốt trong nhiên liệu…

Nhu cầu tiêu thụ MTBE đang tăng nhanh, MTBE là một trong những hoá chất tăng  trưởng  mạnh nhất trên  thế giới với tốc độ tăng trưởng trung bình 20% mỗi năm (1989--1994).Dự báo đến năm 2010 nhu cầu về MTBE trên toàn thế giới có thể lên tới 29000 tấn/năm. Có nhiều công nghệ sản xuất MTBE của các hãng khác nhau trên thế giới, ví dụ như qui trình công nghệ sản xuất MTBE của Snamprogatti (Mĩ) sử dụng nguyên liệu là hỗn hợp khí C4 chứa isobutylen. Qui trình công nghệ sản xuất MTBE của Huls ( Cộng hoà liên bang Đức). quá trình của CD Tech dùng nguyên liệu C1 và C5 ( hỗn hợp khí). Quá  trình ARCO với nguyên liệu từ quá trình đehydrat hoá Tert Butyl Alcohol.




M_tả

M_tả

Đồ án thiết kế phân xưởng sản xuất MTBE (Vũ Quốc Bình) Full

 



3.2.2.2. Lựa chọn công nghệ

Với nguồn nguyên liệu sẵn có lấy từ các mỏ khí, công nghệ FCC và các phân đoạn của nhà máy lọc dầu để đạt được công xuất lớn ta lựa chọn công nghệ Oleflex cho quá trình Dehydro hóa và công nghệ Ethermax cho quá trình Ete hóa tổng hợp MTBE. Hai công nghệ này đều là công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Các công nghệ sử dụng kỹ thuật mới, xúc tác hoạt tính cao, độ chọn lọc cao, công nghệ này cho độ chuyển hóa cao mang lại hiệu xuất lớn.

Vì ở đây nguyện liệu đầu vào là iso – butan chỉ sử dụng Dehydro hóa và ete hóa. Công nghệ sản xuất gồm 2 quá trình cơ bản:

- Quá trình Dehydro hóa iso – butan

- Quá trình Ete hóa tổng hợp MTBE

- Sơ đồ công nghệ sản xuất MTBE từ iso – butan với các thông số kỹ thuật sau:

- Nhiệt độ làm việc của tháp tổng hợp MTBE là 313 – 353K (40 – 800C)

- Áp suất của tháp tổng hợp là 100 – 300 Psig

- Xúc tác quá trình tổng hợp là Amberlyst 15

- Độ chuyển hóa đạt 99%

 



3.2.2.2. Lựa chọn công nghệ

Với nguồn nguyên liệu sẵn có lấy từ các mỏ khí, công nghệ FCC và các phân đoạn của nhà máy lọc dầu để đạt được công xuất lớn ta lựa chọn công nghệ Oleflex cho quá trình Dehydro hóa và công nghệ Ethermax cho quá trình Ete hóa tổng hợp MTBE. Hai công nghệ này đều là công nghệ tiên tiến nhất hiện nay. Các công nghệ sử dụng kỹ thuật mới, xúc tác hoạt tính cao, độ chọn lọc cao, công nghệ này cho độ chuyển hóa cao mang lại hiệu xuất lớn.

Vì ở đây nguyện liệu đầu vào là iso – butan chỉ sử dụng Dehydro hóa và ete hóa. Công nghệ sản xuất gồm 2 quá trình cơ bản:

- Quá trình Dehydro hóa iso – butan

- Quá trình Ete hóa tổng hợp MTBE

- Sơ đồ công nghệ sản xuất MTBE từ iso – butan với các thông số kỹ thuật sau:

- Nhiệt độ làm việc của tháp tổng hợp MTBE là 313 – 353K (40 – 800C)

- Áp suất của tháp tổng hợp là 100 – 300 Psig

- Xúc tác quá trình tổng hợp là Amberlyst 15

- Độ chuyển hóa đạt 99%




M_tả

M_tả

Synthesis and microstructure of the (Co,Cr,Fe,Mn,Ni)3O4 high entropy oxide characterized by spinel structure




Tổng hợp và cấu trúc vi mô của oxit entropy cao (Co,Cr,Fe,Mn,Ni)3O4 có cấu trúc spinel


A high-entropy (Co,Cr,Fe,Mn,Ni)3O4 oxide, characterized by the Fd-3m single-phase, spinel structure, was synthesized for the first time. The material was based on the combination of Co, Cr, Fe, Mn and Ni elements, well known from the other group of high-entropy materials, namely high-entropy alloys.




Tổng hợp và cấu trúc vi mô của oxit entropy cao (Co,Cr,Fe,Mn,Ni)3O4 có cấu trúc spinel


A high-entropy (Co,Cr,Fe,Mn,Ni)3O4 oxide, characterized by the Fd-3m single-phase, spinel structure, was synthesized for the first time. The material was based on the combination of Co, Cr, Fe, Mn and Ni elements, well known from the other group of high-entropy materials, namely high-entropy alloys.




M_tả

M_tả

Khảo sát thực trạng của ngành công nghiệp sản xuất gạch porcelain tại Việt Nam và tính toán thiết kế lò thanh lăn đáp ứng năng suất 2 triệu m2 mỗi năm (Lê Thị Hoài) Full




2. Nội dung các phần thuyết minh và tính toán: 

- Giới thiệu về chủng loại,TSKT dòng sản phẩm gạch porcelain 

- Lựa chọn sản phẩm và công nghệ sản xuất  

- Hiện trạng gạch porcelain nói riêng, gạch ốp lát nói chung hiện nay 

- Phân tích chi tiết về công nghệ sản xuất gạch porcelain 

- Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất 

- Nguyên liệu và gia công phối liệu 

- Thiết lập cân bằng nhiệt cho lò nung 

- Định lượng và nghiền phối liệu 

- Tính toán thiết kế lò thanh lăn 




2. Nội dung các phần thuyết minh và tính toán: 

- Giới thiệu về chủng loại,TSKT dòng sản phẩm gạch porcelain 

- Lựa chọn sản phẩm và công nghệ sản xuất  

- Hiện trạng gạch porcelain nói riêng, gạch ốp lát nói chung hiện nay 

- Phân tích chi tiết về công nghệ sản xuất gạch porcelain 

- Sơ đồ dây chuyền công nghệ sản xuất 

- Nguyên liệu và gia công phối liệu 

- Thiết lập cân bằng nhiệt cho lò nung 

- Định lượng và nghiền phối liệu 

- Tính toán thiết kế lò thanh lăn 




M_tả

M_tả

CHẾ TẠO GLUCOSAMINE HYDROCHLORIDE TỪ CHITOSAN TÁCH TỪ VỎ CUA ĐỒNG (Nguyễn Tiến An)




Nghiên cứu chế tạo glucosamine hydrochloride từ chitosan tách từ vỏ cua đồng của tác giả Nguyễn Tiến An tập trung vào việc tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để thu hồi hợp chất có giá trị dược liệu. Quy trình này trải qua các công đoạn từ xử lý nguyên liệu thô, tách chiết chitin, chuyển hóa thành chitosan, và thủy phân bằng acid để tạo ra glucosamine hydrochloride




Nghiên cứu chế tạo glucosamine hydrochloride từ chitosan tách từ vỏ cua đồng của tác giả Nguyễn Tiến An tập trung vào việc tận dụng phế phụ phẩm nông nghiệp để thu hồi hợp chất có giá trị dược liệu. Quy trình này trải qua các công đoạn từ xử lý nguyên liệu thô, tách chiết chitin, chuyển hóa thành chitosan, và thủy phân bằng acid để tạo ra glucosamine hydrochloride




M_tả

M_tả

ĐỒ ÁN - Nghiên cứu điều chế glucosamin từ vỏ tôm (Nguyễn Đức Duy) Full




Chương III : THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 3.1.Quy trình điều chế chitin, chitosan và glucosamin hydroclorua (glu.HCl) Sơ đồ 3.1: Quy trình điều chế chitin, chitosan và glu.HCl từ vỏ tôm Vỏ tôm sạch Ngâm trong HCl 10%, Ts = 12 giờ, T0 = t0 phòng Rửa trung tính Đun trong NaOH 3%, Ts = 3,5 - 4 giờ, T0 = 90 - 950C Rửa trung tính 1.Ngâm trong hỗn hợp KMnO4 + C2H2O4. Hoặc 2.Ngâm trong H2O2 1%. Chitin trắng sạch Loại Khoáng Loại Protein Rửa sạch, sấy khô ở T0 = 600C Đun trong NaOH 50%, Ts = 4 giờ, T0=110 - 1200C Chitosan Đun trong HCl 36%, Ts= 4 giờ, T0 = 90-95% Glucosamin hydroclorua Rửa trung tính, sấy khô Tẩy màu, lọc, sấy khô Đồ Án Tốt Nghiệp Nghiên cứu điều chế glucosamin từ vỏ tôm Nguyễn Đức Duy Lớp CN Hoá Dược và Hoá Chất BVTV K47 30 3.2. Điều chế chitin từ vỏ tôm Cân 40g vỏ tôm khô cho vào cốc 1lít, sau đó cho từ từ 200ml HCl 10% vào và để ngập toàn bộ vỏ tôm, nhận thấy có hiện tượng sủi bọt mạnh chứng tỏ có phản ứng xẩy ra, kiểm tra pH=1 - 2 là được, ngâm trong khoảng 12 giờ (để qua đêm) và để ở nhiệt độ phòng, thỉnh thoảng lại khuấy để cho phản ứng xảy ra nhanh hơn (đến khi không thấy bọt, khí thoát ra, thử pH vẫn còn axit). Sau 12 giờ, vớt vỏ tôm ra và rửa lại bằng nước thường đến pH=7, sau đó rửa bằng nước cất. Lúc này vỏ tôm có màu hồng nhạt và mềm do đã được loại hết các tạp chất vô cơ. Vỏ tôm thu được để ráo bớt nước sau đó cho vào bình cầu 500ml, đồng thời cho NaOH 3% vào cho đến khi ngập hoàn toàn vỏ tôm và kiểm tra pH= 11- 12 là đạt yêu cầu. Đun ở nhiệt độ 90 - 950C trong khoảng 3,5 - 4 giờ, lúc đun có lắp sinh hàn để tránh hiện tượng trào bọt ra ngoài và mùi khó chịu. Sau khi phản ứng kết thúc đem sản phẩm đi rửa bằng nước thường đến pH=7, sau đó tráng lại bằng nước cất. Sản phẩm thu được có màu trắng phớt hồng. Chất màu (astaxanthin) có trong chitin được loại bỏ theo 2 phương pháp: 1. Cho 10ml dung dịch KMnO4 1% vào trong bình đựng chitin ở trên, sau đó trộn đều với nhau, để trong thời gian 1 giờ ở nhiệt độ phòng. Sau 1 giờ, rửa sạch sản phẩm, nhận thấy sản phẩm có màu tím đen chứng tỏ vẫn còn nhiều KMnO4 chưa được rửa sạch. Để loại hết KMnO4 ta dùng 50ml axit Oxalic HOOC-COOH 1%, nhận thấy nếu để ở nhiệt độ phòng thì khó loại hết màu tím, ta đem đun nóng ở nhiệt độ 50 - 600C thì màu mất hoàn toàn, rửa sạch thu được sản phẩm có màu trắng đẹp. 2. Ngâm ngập chitin bằng 60ml H2O2 1%, để qua đêm ở nhiệt độ phòng. Sản phẩm sau khi ngâm tuy màu đã bớt nhiều nhưng vẫn còn thấy hơi phớt hồng, rửa sạch bằng nước, tráng lại bằng nước cất. Sấy khô sản phẩm ở nhiệt độ 600C, thu được chitin trắng sạch. Hiệu suất quá trình điều chế chitin được tính theo công thức sau: Đồ Án Tốt Nghiệp Nghiên cứu điều chế glucosamin từ vỏ tôm Nguyễn Đức Duy Lớp CN Hoá Dược và Hoá Chất BVTV K47 31 2 1 1 (%) *100%mH m = Trong đó : m1: số gam của vỏ tôm




Chương III : THỰC NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 3.1.Quy trình điều chế chitin, chitosan và glucosamin hydroclorua (glu.HCl) Sơ đồ 3.1: Quy trình điều chế chitin, chitosan và glu.HCl từ vỏ tôm Vỏ tôm sạch Ngâm trong HCl 10%, Ts = 12 giờ, T0 = t0 phòng Rửa trung tính Đun trong NaOH 3%, Ts = 3,5 - 4 giờ, T0 = 90 - 950C Rửa trung tính 1.Ngâm trong hỗn hợp KMnO4 + C2H2O4. Hoặc 2.Ngâm trong H2O2 1%. Chitin trắng sạch Loại Khoáng Loại Protein Rửa sạch, sấy khô ở T0 = 600C Đun trong NaOH 50%, Ts = 4 giờ, T0=110 - 1200C Chitosan Đun trong HCl 36%, Ts= 4 giờ, T0 = 90-95% Glucosamin hydroclorua Rửa trung tính, sấy khô Tẩy màu, lọc, sấy khô Đồ Án Tốt Nghiệp Nghiên cứu điều chế glucosamin từ vỏ tôm Nguyễn Đức Duy Lớp CN Hoá Dược và Hoá Chất BVTV K47 30 3.2. Điều chế chitin từ vỏ tôm Cân 40g vỏ tôm khô cho vào cốc 1lít, sau đó cho từ từ 200ml HCl 10% vào và để ngập toàn bộ vỏ tôm, nhận thấy có hiện tượng sủi bọt mạnh chứng tỏ có phản ứng xẩy ra, kiểm tra pH=1 - 2 là được, ngâm trong khoảng 12 giờ (để qua đêm) và để ở nhiệt độ phòng, thỉnh thoảng lại khuấy để cho phản ứng xảy ra nhanh hơn (đến khi không thấy bọt, khí thoát ra, thử pH vẫn còn axit). Sau 12 giờ, vớt vỏ tôm ra và rửa lại bằng nước thường đến pH=7, sau đó rửa bằng nước cất. Lúc này vỏ tôm có màu hồng nhạt và mềm do đã được loại hết các tạp chất vô cơ. Vỏ tôm thu được để ráo bớt nước sau đó cho vào bình cầu 500ml, đồng thời cho NaOH 3% vào cho đến khi ngập hoàn toàn vỏ tôm và kiểm tra pH= 11- 12 là đạt yêu cầu. Đun ở nhiệt độ 90 - 950C trong khoảng 3,5 - 4 giờ, lúc đun có lắp sinh hàn để tránh hiện tượng trào bọt ra ngoài và mùi khó chịu. Sau khi phản ứng kết thúc đem sản phẩm đi rửa bằng nước thường đến pH=7, sau đó tráng lại bằng nước cất. Sản phẩm thu được có màu trắng phớt hồng. Chất màu (astaxanthin) có trong chitin được loại bỏ theo 2 phương pháp: 1. Cho 10ml dung dịch KMnO4 1% vào trong bình đựng chitin ở trên, sau đó trộn đều với nhau, để trong thời gian 1 giờ ở nhiệt độ phòng. Sau 1 giờ, rửa sạch sản phẩm, nhận thấy sản phẩm có màu tím đen chứng tỏ vẫn còn nhiều KMnO4 chưa được rửa sạch. Để loại hết KMnO4 ta dùng 50ml axit Oxalic HOOC-COOH 1%, nhận thấy nếu để ở nhiệt độ phòng thì khó loại hết màu tím, ta đem đun nóng ở nhiệt độ 50 - 600C thì màu mất hoàn toàn, rửa sạch thu được sản phẩm có màu trắng đẹp. 2. Ngâm ngập chitin bằng 60ml H2O2 1%, để qua đêm ở nhiệt độ phòng. Sản phẩm sau khi ngâm tuy màu đã bớt nhiều nhưng vẫn còn thấy hơi phớt hồng, rửa sạch bằng nước, tráng lại bằng nước cất. Sấy khô sản phẩm ở nhiệt độ 600C, thu được chitin trắng sạch. Hiệu suất quá trình điều chế chitin được tính theo công thức sau: Đồ Án Tốt Nghiệp Nghiên cứu điều chế glucosamin từ vỏ tôm Nguyễn Đức Duy Lớp CN Hoá Dược và Hoá Chất BVTV K47 31 2 1 1 (%) *100%mH m = Trong đó : m1: số gam của vỏ tôm




M_tả

M_tả

Nghiên cứu ly trích chitosan từ vỏ cua đồng (Somanniathelphusa sinensis) (Nguyễn Đỗ Quỳnh)




Nghiên cứu ly trích chitosan từ vỏ cua đồng (Somanniathelphusa sinensis) nhằm tạo ra sản phẩm chitosan có chất lượng cao và tận dụng được nguồn phế liệu từ nguyên liệu cua đồng. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 11/2014 tạiphòng thí nghiệm Bộ môn Dinh dưỡng và Chế biến Thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơvới 4 thí nghiệm chính khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung dịch HCl (8, 10 và 12%) và thời gian ngâm (15, 17 và 19 giờ) đến khả năng khử khoáng trong nguyên liệu, nồng độ NaOH (30, 40 và 50%) và thời gian ngâm (4,5; 5,5 và 6,5 giờ)đến khả năng khử protein, thời gian ngâm dung dịch acetone (15,30, 45, 60 và 75 phút)đến khả năngkhử màu và thời gian sấy (24, 48, 72 và 96 giờ) tại 55 o C đến độ ẩm và hiệu suất thu hồi sản phẩm chitosan. So sánh tính chất hóa lý của chitosan sản xuất từ vỏ cua đồng và chitosan thương mại từ vỏ tôm sú. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng khoáng và protein thấp nhất tương ứng là 0,58% và 5,73%, khi khử khoáng bằng dung dịch HCl ở nồng độ 10%, thời gian 15 giờ và khử khoáng 2 lần, khử protein bằng NaOH ở nồng độ 40% trong 5,5 giờ, Giá trị L* đạt cao nhất là 59,74 khi khử màu bằng acetone trong 45 phút, sấy dung dịch trích lyở nhiệt độ 55 o C trong 48 giờ thu được sản phẩm chitosan có độ ẩm và hiệu suất thu hồi đạt tốt nhất tương ứng là 9,37% và 20,13%. 




Nghiên cứu ly trích chitosan từ vỏ cua đồng (Somanniathelphusa sinensis) nhằm tạo ra sản phẩm chitosan có chất lượng cao và tận dụng được nguồn phế liệu từ nguyên liệu cua đồng. Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 08/2014 đến tháng 11/2014 tạiphòng thí nghiệm Bộ môn Dinh dưỡng và Chế biến Thủy sản, Khoa Thủy sản, Đại học Cần Thơvới 4 thí nghiệm chính khảo sát ảnh hưởng của nồng độ dung dịch HCl (8, 10 và 12%) và thời gian ngâm (15, 17 và 19 giờ) đến khả năng khử khoáng trong nguyên liệu, nồng độ NaOH (30, 40 và 50%) và thời gian ngâm (4,5; 5,5 và 6,5 giờ)đến khả năng khử protein, thời gian ngâm dung dịch acetone (15,30, 45, 60 và 75 phút)đến khả năngkhử màu và thời gian sấy (24, 48, 72 và 96 giờ) tại 55 o C đến độ ẩm và hiệu suất thu hồi sản phẩm chitosan. So sánh tính chất hóa lý của chitosan sản xuất từ vỏ cua đồng và chitosan thương mại từ vỏ tôm sú. Từ kết quả nghiên cứu cho thấy hàm lượng khoáng và protein thấp nhất tương ứng là 0,58% và 5,73%, khi khử khoáng bằng dung dịch HCl ở nồng độ 10%, thời gian 15 giờ và khử khoáng 2 lần, khử protein bằng NaOH ở nồng độ 40% trong 5,5 giờ, Giá trị L* đạt cao nhất là 59,74 khi khử màu bằng acetone trong 45 phút, sấy dung dịch trích lyở nhiệt độ 55 o C trong 48 giờ thu được sản phẩm chitosan có độ ẩm và hiệu suất thu hồi đạt tốt nhất tương ứng là 9,37% và 20,13%. 




M_tả

M_tả

Thiết kế phân xưởng sản xuất Amoniac NH3 từ khí tự nhiên năng suất 500.000 tấn mỗi năm - Nguyễn Vĩnh Lộc (Thuyết minh + Bản vẽ) Full.



Amoniac(NH3) có ý nghĩa rất lớn trong công nghiệp. Vào năm 1909 Fritz Haber [20] phát minh ra phản ứng tổng hợp amoniac ở qui mô phòng thí nghiệm. Năm 1913 ở Đức Carl Bosch [2] đa vào qui mô pilot với sản lợng 30 tấn/ngày và dần phát triển tới ngày nay .

Tổng hợp amoniac đã trở thành một nguồn nguyên liệu quan trọng cho phân đạm, đặc biệt là sau 1945, nếu không nói là nguồn nguyên liệu chủ yếu [2]. Ngoài ra, amoniac còn là nguyên liệu cho công nghiệp quốc phòng, công nghiệp dân dụng và công nghiệp tổng hợp hữu cơ khác.

Nguyên liệu cho quá trình tổng hợp amoniac dùng nguyên liệu chính là khí nitơ và  hydro. Nguồn gốc nitơ duy nhất và vô tận là không khí. Nguồn hydro cũng ngày càng đa dạng từ than, sang dầu, sang khí, ... tới 1990 tỷ trọng khí trong cơ cấu nguyên liệu đã lên đến 78,7%; dầu naphta 5%; dầu nặng 3,4%; than và cố : 10,9%; các nguồn khác:1,6%. Cùng với sự phát triển của công nghiệp khai thác, chế biến khí tự nhiên và dầu mỏ ngời ta đã chuyển sang sử dụng các loại nguyên liệu này[2] vì đầu t ít, tiêu hao năng lợng thấp. 



Amoniac(NH3) có ý nghĩa rất lớn trong công nghiệp. Vào năm 1909 Fritz Haber [20] phát minh ra phản ứng tổng hợp amoniac ở qui mô phòng thí nghiệm. Năm 1913 ở Đức Carl Bosch [2] đa vào qui mô pilot với sản lợng 30 tấn/ngày và dần phát triển tới ngày nay .

Tổng hợp amoniac đã trở thành một nguồn nguyên liệu quan trọng cho phân đạm, đặc biệt là sau 1945, nếu không nói là nguồn nguyên liệu chủ yếu [2]. Ngoài ra, amoniac còn là nguyên liệu cho công nghiệp quốc phòng, công nghiệp dân dụng và công nghiệp tổng hợp hữu cơ khác.

Nguyên liệu cho quá trình tổng hợp amoniac dùng nguyên liệu chính là khí nitơ và  hydro. Nguồn gốc nitơ duy nhất và vô tận là không khí. Nguồn hydro cũng ngày càng đa dạng từ than, sang dầu, sang khí, ... tới 1990 tỷ trọng khí trong cơ cấu nguyên liệu đã lên đến 78,7%; dầu naphta 5%; dầu nặng 3,4%; than và cố : 10,9%; các nguồn khác:1,6%. Cùng với sự phát triển của công nghiệp khai thác, chế biến khí tự nhiên và dầu mỏ ngời ta đã chuyển sang sử dụng các loại nguyên liệu này[2] vì đầu t ít, tiêu hao năng lợng thấp. 




M_tả

M_tả

D. Luận văn chuyên ngành Hóa học - Vật liệu (Chemistry & Materials)