Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn xã hội khác. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn D. Luận văn xã hội khác. Hiển thị tất cả bài đăng

LUẬN VĂN - Thực trạng công tác khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại bệnh viện đa khoa tỉnh thái bình năm 2014 (Full)


Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dàn là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước, tiến tới công bằng trong khám chừa bệnh (KCB) đế mọi người dân đều được hướng quyền lợi khám chữa bệnh.
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội lớn, là loại hình bảo hiểm đặc biệt mang ý nghĩa nhân đạo, cộng đồng sâu sắc, không vì mục đích kinh doanh và được Nhà nước bảo hộ. Mục đích của chính sách BHYT góp phần thực hiện công bang xã hội trong chăm sóc và bảo vệ sức khoé nhân dân. Mục tiêu lâu dài cua chính sách BHYT là mọi người dân đều được thực hiện chăm sóc sức khoê thông qua BHYT.


Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cho nhân dàn là một trong những chính sách xã hội quan trọng của Đảng và Nhà nước, tiến tới công bằng trong khám chừa bệnh (KCB) đế mọi người dân đều được hướng quyền lợi khám chữa bệnh.
Bảo hiểm y tế (BHYT) là một chính sách xã hội lớn, là loại hình bảo hiểm đặc biệt mang ý nghĩa nhân đạo, cộng đồng sâu sắc, không vì mục đích kinh doanh và được Nhà nước bảo hộ. Mục đích của chính sách BHYT góp phần thực hiện công bang xã hội trong chăm sóc và bảo vệ sức khoé nhân dân. Mục tiêu lâu dài cua chính sách BHYT là mọi người dân đều được thực hiện chăm sóc sức khoê thông qua BHYT.




M_tả

M_tả

KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG LÂY NHIỄM VIÊM GAN B VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG 2015 (Hoàng Văn Doanh) Full

 


Viêm gan B (VGB) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người do virus viêm gan B (hepatitis B virus: HBV) gây ra, một bệnh để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh VGB.

Theo thống kê của WHO một phần ba dân số thế giới đã từng bị nhiễm HBV, khoảng 350 triệu người mang HBV mạn tính. Mỗi năm có khoảng 2 triệu người mang HBV mạn chết do hậu quả suy gan cấp, xơ gan, ung thư gan[34].

Tại Việt Nam, rất nhiều nghiên cứu về tần suất mắc bệnh VGB cho thấy Việt Nam ở vào vùng dịch lưu hành cao[7]. Theo số liệu điều tra của Bộ Y tế năm 2012, có khoảng 12 - 16 triệu người nhiễm HBV, trong đó tỉ lệ người có HBsAg trong cộng đồng từ 14 - 26%, tuỳ theo những nghiên cứu khác nhau và ở các nhóm dân cư địa lý khác nhau, số người nhiễm HBV mạn tính khoảng 10 triệu người.

 


Viêm gan B (VGB) là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở người do virus viêm gan B (hepatitis B virus: HBV) gây ra, một bệnh để lại nhiều hậu quả nghiêm trọng. Đến nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu cho bệnh VGB.

Theo thống kê của WHO một phần ba dân số thế giới đã từng bị nhiễm HBV, khoảng 350 triệu người mang HBV mạn tính. Mỗi năm có khoảng 2 triệu người mang HBV mạn chết do hậu quả suy gan cấp, xơ gan, ung thư gan[34].

Tại Việt Nam, rất nhiều nghiên cứu về tần suất mắc bệnh VGB cho thấy Việt Nam ở vào vùng dịch lưu hành cao[7]. Theo số liệu điều tra của Bộ Y tế năm 2012, có khoảng 12 - 16 triệu người nhiễm HBV, trong đó tỉ lệ người có HBsAg trong cộng đồng từ 14 - 26%, tuỳ theo những nghiên cứu khác nhau và ở các nhóm dân cư địa lý khác nhau, số người nhiễm HBV mạn tính khoảng 10 triệu người.




M_tả

M_tả

Tổng hợp Câu hỏi trắc nghiệm Sản (Nhiều chủ đề) (Full 37 bài)





Bài số: 01 Khung chậu nữ về sản khoa
Bài số: 02 Sinh lý phụ khoa
Bài số: 03 Sự thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng
Bài số: 04 Thay đổi giải phẫu và sinh lý của phụ nữ khi mang thai
Bài số: 06 Chẩn đoán ngôi thế, kiểu thế
Bài số: 07 Tính chất của thai nhi va phần phụ đủ tháng





Bài số: 01 Khung chậu nữ về sản khoa
Bài số: 02 Sinh lý phụ khoa
Bài số: 03 Sự thụ tinh, làm tổ và phát triển của trứng
Bài số: 04 Thay đổi giải phẫu và sinh lý của phụ nữ khi mang thai
Bài số: 06 Chẩn đoán ngôi thế, kiểu thế
Bài số: 07 Tính chất của thai nhi va phần phụ đủ tháng




M_tả

M_tả

(SKKN mới NHẤT) vận DỤNG NĂNG lực số vào dạy học văn CHÍNH LUẬN TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ văn THPT NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG lực học SINH



2. Muc đich nghiên cưu

- Đối với học sinh: Biết vận dụng năng lực số vào việc khai thác tư liệu trên nền tảng công nghệ số.



2. Muc đich nghiên cưu

- Đối với học sinh: Biết vận dụng năng lực số vào việc khai thác tư liệu trên nền tảng công nghệ số.




M_tả

M_tả

So sánh sự khác nhau giữa gia đình Việt Nam truyền thống và hiện đại. Điều kiện quan trọng nhất để bảo vệ và gìn giữ hạnh phúc gia đình là gì



Bạn đã từng nghe câu nói của Elizabeth Berg: “Bạn được sinh ra từ gia đình của mình và gia đình được sinh ra từ trong bạn. Không mưu cầu. Không đổi chác.” Trong cuộc sống mỗi chúng ta, có đôi lúc ta sẽ gặp phải những khó khăn và thử thách, những lúc ấy ta thường tìm đến những điểm tựa tinh thần giúp con người ta yêu đời, lạc quan và vượt qua được gian khổ. Nơi đó không đâu xa xôi mà nó chính là gia đình.



Bạn đã từng nghe câu nói của Elizabeth Berg: “Bạn được sinh ra từ gia đình của mình và gia đình được sinh ra từ trong bạn. Không mưu cầu. Không đổi chác.” Trong cuộc sống mỗi chúng ta, có đôi lúc ta sẽ gặp phải những khó khăn và thử thách, những lúc ấy ta thường tìm đến những điểm tựa tinh thần giúp con người ta yêu đời, lạc quan và vượt qua được gian khổ. Nơi đó không đâu xa xôi mà nó chính là gia đình.




M_tả

M_tả

Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện cần giờ, thành phố Hồ Chí Minh



Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, KT - XH và thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện hiện nay đặt ra yêu cầu về việc nhìn nhận lại vai trò của công tác ĐTBD theo hướng đổi mới, thiết thực, đúng nhu cầu nhằm nâng cao trình độ, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức cấp xã. Theo đó, hiện nay huyện Cần Giờ đang phấn đấu trở thành huyện đạt chuẩn nông thôn mới, cho nên đặc biệt quan tâm đến hiệu quả công tác ĐTBD công chức cấp xã được thực hiện hàng năm theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Vì vậy, tác giả xác định việc nghiên cứu đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh” là yếu tố khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức cấp xã của huyện.



Xuất phát từ điều kiện tự nhiên, KT - XH và thực trạng chất lượng đội ngũ công chức cấp xã trên địa bàn huyện hiện nay đặt ra yêu cầu về việc nhìn nhận lại vai trò của công tác ĐTBD theo hướng đổi mới, thiết thực, đúng nhu cầu nhằm nâng cao trình độ, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức cấp xã. Theo đó, hiện nay huyện Cần Giờ đang phấn đấu trở thành huyện đạt chuẩn nông thôn mới, cho nên đặc biệt quan tâm đến hiệu quả công tác ĐTBD công chức cấp xã được thực hiện hàng năm theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27 tháng 11 năm 2009 về phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020”. Vì vậy, tác giả xác định việc nghiên cứu đề tài “Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã trên địa bàn huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh” là yếu tố khách quan, cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt với mong muốn góp một phần nhỏ vào việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức cấp xã của huyện.




M_tả

M_tả

THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY



Bất cứ một chương trình phát triển kinh tế xã hội nào của một đất nước cũng như của một địa phương, thành hay bại thường xuất phát từ một số yếu tố cơ bản như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ và lao động. Trong các yếu tố cơ bản quan trọng này thì việc quyết định sự phát triển kinh tế xã hội đó chính là nhân tố con người. Nếu trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp thì tài nguyên, vốn và công nghệ cũng sẽ trở thành lãng phí và tất yếu dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. 

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi phải có đội ngũ lao động kỹ thuật với số lượng và chất lượng ngày càng cao. Ở nước ta lực lượng lao động khá dồi dào, có trình độ học vấn căn bản làm cơ sở cho việc đào tạo nghề nghiệp và nhanh chóng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới, sẵn sàng để được tham gia vào các chương trình kinh tế xã hội của địa phương, kể cả tham gia xuất khẩu lao động và người lao động hầu hết họ đều cần cù, chịu khó làm việc, có ý thức học hỏi và chấp hành nội quy, chấp hành luật pháp khá nghiêm túc. Đây chính là nguồn lực ban đầu cần thiết cho những quyết định đầu tư trong nước cũng như kêu gọi hợp tác đầu tư của nước ngoài vào các dự án phát triển kinh tế. Nhưng để nguồn nhân lực đó trở thành nội lực thực sự mạnh cho việc gọi vốn, thu hút công nghệ, khai thác tiềm năng thiên nhiên thì phải đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp đào tạo nghề nghiệp cho người lao động. Vì hiện nay trình độ qua đào tạo lành nghề ở nước ta còn thấp như vậy thì khó có thể tạo ra hiệu quả trong việc sử dụng vốn, công nghệ và khai thác tiềm năng, càng khó khăn để cạnh tranh về chất lượng hàng hóa và càng khó cho việc giải quyết việc làm.

Mỗi năm nước ta khoảng có 1,2 triệu người đến tuổi lao động và được bổ sung vào lực lượng lao động của đất nước. Thế nhưng số lượng lao động thì được bổ sung mà chất lượng thì lại hạn chế. Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, chưa qua học nghề bài bản, thiếu tác phong công nghiệp,…, nên nhiều doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nhiều lao động lại không tuyển được hoặc tuyển dụng rồi mà chưa hài lòng về chất lượng. Mặc khác, hiện nay Việt Nam chính thức đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và sẽ mở cửa thị trường rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Đối với lao động Việt Nam thì hiện nay mới chỉ có 25% trong số 42 triệu lao động qua đào tạo; khoảng 80% thanh niên (18 – 23 tuổi) bước vào thị trường lao động chưa qua đào tạo nghề; dư thừa lao động phổ thông, thiếu lao động kỹ thuật lành nghề, thiếu chuyên gia, doanh nhân, nhà quản lý, cán bộ hành chính, cán bộ quản lý chất lượng cao, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao. Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 so với 5,78/10 của Trung Quốc và 4,04/10 của Thái Lan, đây là những thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam. Bên cạnh đó gia nhập WTO đồng nghĩa việc Việt Nam gia nhập chuỗi phân công lao động toàn cầu. Do có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và giá nhân công rẻ, trong ngắn hạn, Việt Nam có lợi thế so sánh về việc làm ở các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở yếu tố lao động rẻ thì sẽ không thể biến thế mạnh đó thành cơ hội. Ngoài ra yếu tố lao động rẻ chỉ có lợi thế đối những ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động, không là lợi thế đối với những ngành kinh tế sử dụng công nghệ cao hoặc ngành sử dụng nhiều vốn. 

Đối với doanh nghiệp, gia nhập WTO buộc các doanh nghiệp của Việt Nam phải không ngừng nâng cao tính cạnh tranh, cải tiến trang thiết bị, nâng cao năng suất, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực, kể cả nguồn lực lao động. Sức ép sẽ ngày càng tăng, nhất là đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu. Các chủ doanh nghiệp đều cảm nhận được rằng, nền kinh tế ngày càng phát triển quá trình hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở thì việc thu hút nhân lực có trình độ càng cạnh tranh gay gắt nhất là trong tình hình hiện nay khi Việt Nam gia nhập WTO những tập đoàn quốc gia với lợi thế cạnh tranh về chính sách đãi ngộ, sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước vào chỗ khó khăn hơn, phải đương đầu với cuộc chiến giành giật nhân tài.



Bất cứ một chương trình phát triển kinh tế xã hội nào của một đất nước cũng như của một địa phương, thành hay bại thường xuất phát từ một số yếu tố cơ bản như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, công nghệ và lao động. Trong các yếu tố cơ bản quan trọng này thì việc quyết định sự phát triển kinh tế xã hội đó chính là nhân tố con người. Nếu trình độ nghề nghiệp của người lao động thấp thì tài nguyên, vốn và công nghệ cũng sẽ trở thành lãng phí và tất yếu dẫn đến hiệu quả kinh tế thấp. 

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi phải có đội ngũ lao động kỹ thuật với số lượng và chất lượng ngày càng cao. Ở nước ta lực lượng lao động khá dồi dào, có trình độ học vấn căn bản làm cơ sở cho việc đào tạo nghề nghiệp và nhanh chóng tiếp thu khoa học kỹ thuật mới, sẵn sàng để được tham gia vào các chương trình kinh tế xã hội của địa phương, kể cả tham gia xuất khẩu lao động và người lao động hầu hết họ đều cần cù, chịu khó làm việc, có ý thức học hỏi và chấp hành nội quy, chấp hành luật pháp khá nghiêm túc. Đây chính là nguồn lực ban đầu cần thiết cho những quyết định đầu tư trong nước cũng như kêu gọi hợp tác đầu tư của nước ngoài vào các dự án phát triển kinh tế. Nhưng để nguồn nhân lực đó trở thành nội lực thực sự mạnh cho việc gọi vốn, thu hút công nghệ, khai thác tiềm năng thiên nhiên thì phải đẩy mạnh hơn nữa sự nghiệp đào tạo nghề nghiệp cho người lao động. Vì hiện nay trình độ qua đào tạo lành nghề ở nước ta còn thấp như vậy thì khó có thể tạo ra hiệu quả trong việc sử dụng vốn, công nghệ và khai thác tiềm năng, càng khó khăn để cạnh tranh về chất lượng hàng hóa và càng khó cho việc giải quyết việc làm.

Mỗi năm nước ta khoảng có 1,2 triệu người đến tuổi lao động và được bổ sung vào lực lượng lao động của đất nước. Thế nhưng số lượng lao động thì được bổ sung mà chất lượng thì lại hạn chế. Phần lớn lao động xuất thân từ nông thôn, chưa qua học nghề bài bản, thiếu tác phong công nghiệp,…, nên nhiều doanh nghiệp có nhu cầu sử dụng nhiều lao động lại không tuyển được hoặc tuyển dụng rồi mà chưa hài lòng về chất lượng. Mặc khác, hiện nay Việt Nam chính thức đã gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), và sẽ mở cửa thị trường rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Đối với lao động Việt Nam thì hiện nay mới chỉ có 25% trong số 42 triệu lao động qua đào tạo; khoảng 80% thanh niên (18 – 23 tuổi) bước vào thị trường lao động chưa qua đào tạo nghề; dư thừa lao động phổ thông, thiếu lao động kỹ thuật lành nghề, thiếu chuyên gia, doanh nhân, nhà quản lý, cán bộ hành chính, cán bộ quản lý chất lượng cao, cán bộ khoa học và công nghệ có trình độ cao. Chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 so với 5,78/10 của Trung Quốc và 4,04/10 của Thái Lan, đây là những thách thức đối với nguồn nhân lực Việt Nam. Bên cạnh đó gia nhập WTO đồng nghĩa việc Việt Nam gia nhập chuỗi phân công lao động toàn cầu. Do có nguồn nhân lực trẻ, dồi dào và giá nhân công rẻ, trong ngắn hạn, Việt Nam có lợi thế so sánh về việc làm ở các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động. Tuy nhiên, nếu chỉ dừng ở yếu tố lao động rẻ thì sẽ không thể biến thế mạnh đó thành cơ hội. Ngoài ra yếu tố lao động rẻ chỉ có lợi thế đối những ngành kinh tế sử dụng nhiều lao động, không là lợi thế đối với những ngành kinh tế sử dụng công nghệ cao hoặc ngành sử dụng nhiều vốn. 

Đối với doanh nghiệp, gia nhập WTO buộc các doanh nghiệp của Việt Nam phải không ngừng nâng cao tính cạnh tranh, cải tiến trang thiết bị, nâng cao năng suất, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực, kể cả nguồn lực lao động. Sức ép sẽ ngày càng tăng, nhất là đối với khu vực kinh tế quốc doanh. Việc phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề quan tâm hàng đầu. Các chủ doanh nghiệp đều cảm nhận được rằng, nền kinh tế ngày càng phát triển quá trình hội nhập quốc tế ngày càng rộng mở thì việc thu hút nhân lực có trình độ càng cạnh tranh gay gắt nhất là trong tình hình hiện nay khi Việt Nam gia nhập WTO những tập đoàn quốc gia với lợi thế cạnh tranh về chính sách đãi ngộ, sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong nước vào chỗ khó khăn hơn, phải đương đầu với cuộc chiến giành giật nhân tài.




M_tả

M_tả

Đề tài nghiên cứu NHẬN THỨC CỦA NGƯỜI DÂN VỀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH TRONG SINH HOẠT



Môi trường là một mô hình sinh thái quan trọng phục vụ cho đời sống của chính chúng ta. Hiện nay môi trường ấy lại đang bị đe dọa bởi các tác nhân gây ô nhiễm, nó đặt môi trường vào tình trạng báo động như: đất đai thì bị hoang hóa, diện tích rừng thì ngày càng bị suy giảm, nhất là nguồn nước đang ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng… 

          Nước sạch và vệ sinh môi trường rất cần thiết trong đời sống và sinh hoạt con người, thế nhưng, hiện nay chúng ta đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường và khan hiếm nguồn nước sạch. Khi sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm về đường tiêu hóa như tả, lỵ, thương hàn,… và môi trường bị ô nhiễm sẽ gây ra hàng trăm bệnh khác nhau như bệnh hen, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính,… mà chi phí cho việc chữa trị các bệnh này rất cao, có khi kéo dài hàng tháng làm ảnh hưởng đến lao động và học tập.



Môi trường là một mô hình sinh thái quan trọng phục vụ cho đời sống của chính chúng ta. Hiện nay môi trường ấy lại đang bị đe dọa bởi các tác nhân gây ô nhiễm, nó đặt môi trường vào tình trạng báo động như: đất đai thì bị hoang hóa, diện tích rừng thì ngày càng bị suy giảm, nhất là nguồn nước đang ngày càng bị ô nhiễm trầm trọng… 

          Nước sạch và vệ sinh môi trường rất cần thiết trong đời sống và sinh hoạt con người, thế nhưng, hiện nay chúng ta đang đứng trước nguy cơ ô nhiễm môi trường và khan hiếm nguồn nước sạch. Khi sử dụng nguồn nước bị ô nhiễm sẽ gây ra một số bệnh nguy hiểm về đường tiêu hóa như tả, lỵ, thương hàn,… và môi trường bị ô nhiễm sẽ gây ra hàng trăm bệnh khác nhau như bệnh hen, bệnh viêm phổi tắc nghẽn mãn tính,… mà chi phí cho việc chữa trị các bệnh này rất cao, có khi kéo dài hàng tháng làm ảnh hưởng đến lao động và học tập.




M_tả

M_tả

Phân biệt văn bản và ngôn bản - NGỮ PHÁP VĂN BẢN



Thuật ngữ văn bản trong các ngôn ngữ Ấn-Âu đều bắt nguồn từ chữ La-tinh “textus” có nghĩa là “dây bện, vải”. Trong ngôn ngữ học, văn bản đã được định nghĩa theo những cách khác nhau. Trên địa bàn tiếng Việt chẳng hạn, Đinh Trọng Lạc quan niệm: “Văn bản … là một thể thống nhất toàn vẹn được xây dựng theo những quy tắc nhất định”. Hữu Đạt thì cho rằng: “Văn bản là một tập hợp các câu (hay phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác.” Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm có phần đơn giản hơn: Văn bản là chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức. Nhưng ông cũng khẳng định thêm: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu–phần từ, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.”.

Trong tiếng Việt, văn bản được quan niệm là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ. Đó là một chỉnh thể gồm một hay nhiều đoạn văn được liên kết chặt chẽ với nhau để thể hiện một nội dung hoàn chỉnh chung.

 



Thuật ngữ văn bản trong các ngôn ngữ Ấn-Âu đều bắt nguồn từ chữ La-tinh “textus” có nghĩa là “dây bện, vải”. Trong ngôn ngữ học, văn bản đã được định nghĩa theo những cách khác nhau. Trên địa bàn tiếng Việt chẳng hạn, Đinh Trọng Lạc quan niệm: “Văn bản … là một thể thống nhất toàn vẹn được xây dựng theo những quy tắc nhất định”. Hữu Đạt thì cho rằng: “Văn bản là một tập hợp các câu (hay phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác.” Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm có phần đơn giản hơn: Văn bản là chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức. Nhưng ông cũng khẳng định thêm: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu–phần từ, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.”.

Trong tiếng Việt, văn bản được quan niệm là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ. Đó là một chỉnh thể gồm một hay nhiều đoạn văn được liên kết chặt chẽ với nhau để thể hiện một nội dung hoàn chỉnh chung.

 




M_tả

M_tả

Tiểu luận quyền sở hữu trí tuệ



 Trong  thời  đại  phát  triển  của  nền kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vấn đề SHTT và bảo hộ quyền SHTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại.Nó đã trở thành một vấn đề kinh tế và pháp lý trọng tâm trong nội bố của nhiều nước, cũng như trong các thương lượng, tranh chấp quốc tế.

    Với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, việc sao chép, quảng bá nội dung thông tin dưới các dạng thức như văn bản, hình ảnh, âm thanh… ngày càng trở nên dễ dàng, tồn tại sự vi phạm lớn đối với lĩnh vực phần mềm hay bản quyền trong văn học nghệ thuật. Để giải quyết được vấn đề một cách thấu đáo thì rất cần sự hợp tác liên ngành của nhiều lĩnh vực với công nghệ thông tin và bản thân người làm công nghệ thông tin cũng cần phải cập nhật tri thức của nhiều lĩnh vực khác.Chúng ta cần có một tiếng nói thống nhất giữa các chuyên gia về công nghệ thông tin và sở hữu trí tuệ. Việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa, tăng cường sức sáng tạo và phát triển kinh tế  là những mục tiêu chung. 

     



 Trong  thời  đại  phát  triển  của  nền kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay vấn đề SHTT và bảo hộ quyền SHTT ngày càng đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại.Nó đã trở thành một vấn đề kinh tế và pháp lý trọng tâm trong nội bố của nhiều nước, cũng như trong các thương lượng, tranh chấp quốc tế.

    Với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, việc sao chép, quảng bá nội dung thông tin dưới các dạng thức như văn bản, hình ảnh, âm thanh… ngày càng trở nên dễ dàng, tồn tại sự vi phạm lớn đối với lĩnh vực phần mềm hay bản quyền trong văn học nghệ thuật. Để giải quyết được vấn đề một cách thấu đáo thì rất cần sự hợp tác liên ngành của nhiều lĩnh vực với công nghệ thông tin và bản thân người làm công nghệ thông tin cũng cần phải cập nhật tri thức của nhiều lĩnh vực khác.Chúng ta cần có một tiếng nói thống nhất giữa các chuyên gia về công nghệ thông tin và sở hữu trí tuệ. Việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa, tăng cường sức sáng tạo và phát triển kinh tế  là những mục tiêu chung. 

     




M_tả

M_tả

D. Luận văn xã hội khác